mardi 28 juillet 2020

HAI MẶT truyện ngắn YÊN LINH









HAI MẶT



    N hững bức ảnh cuối cùng của Quân được gửi về từ nước Nga xa xôi. Nơi ấy, trời đang mùa đông. Tuyết phủ trắng xóa những nóc nhà, phủ nhạt nhòa khuôn mặt Quân. Chiếc khăn len màu xám tro được đan bởi bàn tay vụng về không đủ sức chống lại với cái lạnh bên xứ người. Quân run rẩy trong ý nghĩ. Tôi đã từng mơ về ngôi nhà với tuyết phủ, lò sưởi bập bùng, hai chiếc ghế bành đặt cạnh nhau bên lò sưởi. Quân và tôi. Cuộc sống thật sự là những tháng ngày hạnh phúc. Nhưng chỉ có Quân giữa trời đầy tuyết. Một mình Quân với căn phòng có cửa sổ hướng ra khu nhà đổ nát. Quân đứng đó, cạnh bức tường dang dở, bình thản đưa mắt nhìn mọi thứ. Ám ảnh trong giấc mơ chập chùng hiện về hàng đêm mang khuôn mặt và đôi mắt Quân. Đôi mắt mở to, bình thản nhìn xoáy vào tất cả. Đôi mắt vờ dửng dưng không tình cảm song đủ sức giết chết linh hồn người đối diện. Tôi thảng thốt giật mình, bàn tay ướt đẫm mồ hôi khi tỉnh dậy sau giấc mơ có Quân. Vẫn đôi mắt bình thản thân thuộc mở to nhìn tôi. Bình thản như khi anh hôn nhẹ lên trán tôi, nghe tôi nói lời chia tay. Không có lí do nào. Anh không hỏi. Anh đã bảo, nếu tôi vui, thì đó là điều đúng. Anh mỉm cười trong những giấc mơ tôi. Anh cười và tôi khóc trong vô thức. Nước mắt không rơi.

Sau này, Quân không cười trong những giấc mơ của tôi nữa. Gã lên chùa, mang về một chiếc túi nhỏ màu đỏ, dặn tôi lúc nào cũng phải mang theo bên mình. Quân không còn về trong những giấc mơ hàng đêm. Tôi đi trong kí ức trắng xóa. Không có hình ảnh của Quân. Cả trong kí ức, trong ý nghĩ, tôi cũng đã bỏ rơi Quân. Tôi không nghĩ, mình lại đủ tàn nhẫn như thế. Có là gì, cuộc sống vốn tàn nhẫn, con người vốn tần nhẫn với nhau kia mà. Tôi đã bắt mình biết tàn nhẫn từ khi yêu gã.

Gã bảo, tình cảm em dành cho Quân không phải là tình yêu. Đó là tình cảm rung động đầu đời của cô gái mới lớn. Có khi, em thích Quân chỉ vì nụ cười, ánh mắt. Đó không phải là tình yêu. Có phải không? Tôi tự hỏi và tự bảo với mình gã nói đúng. Gã hơn tôi sáu tuổi, đã từng trải qua vài mối tình. Lẽ dĩ nhiên gã trải đời hơn tôi. Lẽ dĩ nhiên gã có thể định nghĩa được thứ tình cảm tôi dành cho Quân?(Mà có thật như gã nói?) Khi không còn gã ở bên, tôi tự hỏi mình có yêu Quân không? Mình đã yêu Quân vì cái gì? Khuôn mặt điển trai song lạnh lùng quá thể, đôi mắt bình thản chứa cả phần cay nghiệt, bờ vai rộng đủ làm tôi yên tâm tựa vào. Hay tôi yêu Quân, đơn giản Quân là Quân. Có lẽ, gã nói đúng. Nếu yêu, người ta không dễ dàng quên nhanh như thế. Tôi phản bội nhanh như chưa từng yêu Quân. Trái tim tôi, Quân chưa từng đặt chân đến.

Gã - người khiến tôi phản bội Quân nhanh chóng, mang hai cái tên. Một tháng sau khi quen gã, tôi được gã tiết lộ điều này. Trớ trêu, người ta hay gọi gã là Quân. Tôi hỏi gã, anh muốn em gọi anh bằng cái tên nào? Gã vòng tay qua người tôi, kéo tôi vào lòng gã. Không quan trọng ở cái tên, quan trọng chính là tình cảm em dành cho anh kìa. Tôi bật lời theo phản xạ tự nhiên, em gọi anh là Quân nhé! Thảng thốt chất chứa trong lời vừa bật ra. Gã cười lớn. Nụ cười méo mó, nham nhở cứa mạnh vào da thịt tôi, rách toạc những mảng lớn ở cõi linh hồn. Gã hiểu tôi đang nghĩ gì. Gã có biệt tài đọc được suy nghĩ của người khác. Tôi không là ngoại lệ. Gã thích thú nhìn tôi ngập ngụa trong suy nghĩ tội lỗi, thích thú đặc biệt khi thấy tôi co rúm người lại, tội nghiệp như con mèo con ướt mưa, sợ hãi tránh cái nhìn đang rà soát từng cm trên thân thể và trong ý nghĩ mình. Tôi yêu gã bằng thứ tình yêu lo sợ và đau đớn. Lo sợ một ngày nào đó sẽ mất gã. Một ngày nào đó sẽ không còn được nhìn khuôn mặt hao hao Quân. Một ngày nào đó không còn được tựa vào vai gã, nghe mùi cơ thể quyện vào nhau. Gã có mùi mồ hôi gây nghiện. Bên gã, tôi đau dớn mang tội lỗi từ ngàn kiếp. Đau đớn trong từng mạch máu, từng thớ thịt, từng nơ ron thần kinh. Tại sao tôi lại có thể phản bội Quân nhanh chóng như thế để đến với gã? Tại sao tôi lại đi yêu gã, con người hai mặt đáng sợ? Ẩn sau khuôn mặt điển trai lịch lãm kia là linh hồn ác quỷ đang ẩn náu. Tôi không tìm ra được lí do. Nếu được, tôi đã phản bác lại tất cả lí do ấy để chạy trốn khỏi gã. Gã ngạo nghễ nhìn tôi cố chạy trốn khỏi gã. Bất lực. Gã mang khuôn mặt hân hoan của kẻ chiến thắng. Chiến thắng con người hèn hạ của tôi và chiến thắng cả hình ảnh của Quân trong lòng tôi.

Đáng nguyền rủa trăm ngàn lần cho chính tôi khi tôi đã phản bội Quân ngay từ khi gặp gã. Tôi vẫn mang khuôn mặt hiền ngoan của một cô bạn gái ngoan ngoãn và chung thủy đi bên Quân song tâm trí lại đặt ở gã. Gã đã đánh bật Quân ra khỏi đầu óc, trí não, trái tim tôi. Gã thích thú đến tàn nhẫn khi cố ý nhắc về Quân, thích thú nhìn tôi đau đớn với ý nghĩ vì mình mà Quân chết. Quân lao ô tô xuống vực sâu sau khi kết thúc cuộc điện thoại đường dài cho tôi. Bàn tay anh nắm chặt tấm ảnh chân dung tôi. Tôi mỉm cười độc ác trong bàn tay đẫm máu Quân. Quân chết. Hình ảnh một con bé ngoan hiền cũng đã chết từ lúc ấy. Trong mắt Quân, tôi luôn là cô công chúa bé nhỏ, trong sáng, thánh thiện. Và nếu chăng tôi trở thành như ngày hôm nay là bởi bị mụ phù thủy nào đó phù phép. Rồi tôi sẽ trở lại như ngày xưa. Rồi phép thuật hắc ám sẽ hết. Và tôi, và Quân, và ngày xưa. Quân luôn tin thế. Tôi thì không. Chẳng có phép thuật hắc ám nào cả. Chỉ có tôi với phần suy nghĩ tội lỗi ẩn sau khuôn mặt hiền ngoan.

Có những buổi tối, sau khi lang thang ở một vài quán cà phê nào đó, vạ vật ở một công viên nào đó, gã đưa tôi về nhà. Ngôi nhà bừa bộn, thiếu ánh sáng, thiếu bàn tay chăm sóc nằm ủ dột cuối con hẻm. Tôi không hiểu lắm về cuộc sống của gã. Gã và ngôi nhà của gã. Gã không thích tôi đụng vào đồ đạc của gã, mặc dù tất cả đều bừa bộn. Có khi, tôi thấy mình yêu tất cả những gì của gã. Có khi, lại chẳng nhớ gì trong đầu óc. Trắng xóa màn mưa. Gột rửa và cố gột rửa hình ảnh gã.

Hai tháng yêu nhau, gã dạy tôi biết cách hôn. Nụ hôn gã khiến tôi ngạt thở, đau lèn ở ngực. Gã hiểu điều gì khiến tôi đau. Sau khi hôn tôi, gã đẩy mạnh tôi ra và nhìn thẳng vào mắt tôi. Tại sao khi hôn gã, tôi không nhắm mắt? Gã dạy tôi cách hôn, nhưng đâu dạy tôi là khi hôn cần phải nhắm mắt. Hay gã sợ tôi nhìn thấy phần xấu xa đáng kinh tởm khi chạm vào mắt gã? Gã im lặng, bảo, em cứ hờ hững thế nào ấy. Mất hết cảm xúc. Chẳng ai hôn nhau mà như đang trừng trừng nhìn kẻ thù thế đâu. Kẻ thù? Có khi thế. Có khi, gã là kẻ thù của tôi. Hoặc tôi là kẻ thù của chính tôi.

Tôi không phải là người yêu đầu tiên và cũng không bao giờ là người cuối cùng trong cuộc đời gã. Tôi biết, khi quen tôi, gã vẫn đang quan hệ qua lại với một cô gái nào đó. Gã không ngần ngại cho tôi biết điều đó bằng các ám hiệu trên cơ thể gã. Mùi nước hoa rẻ tiền và son môi ám đầy người gã. Gã cố ý cho tôi biết, gã chờ đợi một câu hỏi, một trận ghen tuông cuồng nộ giáng xuống đầu gã - điều các cô gái vẫn thường làm. Không có ân huệ nào dành cho gã. Tôi không cần sự chung thủy của gã. Vốn dĩ, tôi có chung thủy đâu. Đừng đòi hỏi những thứ mình không có. Tôi im lặng giặt chiếc áo dính vết son giúp gã. Gã căm ghét sự im lặng ấy. Gã kéo tay tôi, nhìn thẳng vào tôi. Gã đau khi nhìn vào đôi mắt tôi? Gã nghĩ tôi sẽ phải đau hơn gã. Gã đưa cô đi qua những con đường tôi và gã đã đi. Gã đưa cô đến một quán quen thuộc tôi thường đến ngồi một mình. Bên cô, gã lịch lãm tựa gã trai mới lớn. Tôi cười rạn vỡ trong lòng. Cô mang khuôn mặt của tôi. Cô giống tôi quá. Không biết, ngoài gã ra, cô còn người đàn ông nào nữa không? Một người con trai luôn mỉm cười và chỉ biết việc hôn nhẹ lên trán người yêu khi chia tay. Tình yêu của họ đẹp như cổ tích. Không! Không! Người đàn ông của cô sẽ không như thế! Anh ta sẽ dày vò cô, băm vằm cô, đày cô chết dần trong đau dớn. Hay là giết chết kẻ phản bội kia nhanh chóng? Anh ta sẽ làm như thế! Nhất định thế! Mà tại sao Quân không làm điều đó với tôi? Tại sao bao giờ Quân cũng chỉ biết mỉm cười, cố giấu cái chua chát sau những đường chuyển động của cơ mặt?

Dường như, sau khuôn mặt thánh thiện, bình thản, Quân đã giết chết tôi bằng cách khác. Đau đớn hơn gấp trăm lần.

Một vài buổi tối, tôi nán lại ngôi nhà gã. Gã và tôi nằm cạnh nhau, nghe rõ nhịp thở của nhau. Nhịp thở tôi hoảng loạn lo sợ. Ngôi nhà im lặng, nuốt chửng hai con người. Tôi chờ đợi điều gì đó. Đàn ông cuối cùng cũng chỉ là ác quỷ. Gã vốn đã là ác quỷ. Phần ác quỷ của gã sẽ trỗi dậy trong bóng đêm và giết chết linh hồn tôi. Tôi mở mắt trân trân chờ đợi. Bàn tay gã nhanh chóng lướt nhẹ nhàng trên cơ thể tôi. Gã chơi bản nhạc ô hợp trên thân thể nhớp nhúa đầy tội lỗi. Tôi. Gã lần mở từng hạt cúc áo. Ngôi nhà im phăng phắc, chỉ còn nghe tiếng gã thở. Trước mắt tôi, Quân đang đứng đó. Máu và tuyết hòa vào nhau, chảy loang xuống tận ngực anh, ướt đẫm chiếc khăn len màu xám tro tôi đã đan tặng. Tôi ú ớ gọi tên Quân đắng ngắt trong cổ. Âm thanh lạc lõng khiến gã lầm tưởng. Gã mơn trớn vài điệu nhạc. Bàn tay di chuyển dọc thân thể. Không chút cảm xúc. Tôi chờ đợi cuộc hiến xác đã được dự đoán và chờ đợi từ trước. Gã hôn nhẹ lên vành tai, và xuống cổ và sâu hơn nữa. Gã đưa tay kéo khóa quần tôi. Tôi không kháng cự, điều lẽ ra tôi phải làm, điều gã đang chờ đợi. Bất thần, gã thôi những nốt nhạc gớm ghiếc và ngồi nhỏm dậy. Gã đọc được từ trong ý nghĩ tôi những điều cố che lấp. Bóng tối không đủ che đi đôi mắt tôi.

- Anh không muốn một cuộc hiến xác như thế này. Em thấy mình đáng bị như thế lắm à? Quân vẫn còn ám ảnh em phải không? Em yêu cậu ta? Em yêu cậu ta hơn em đã nghĩ. Em nghĩ, tôi là sự trừng phạt dành cho em à?

Gã lay mạnh cánh tay tôi. Đau buốt. Tôi im lặng, kéo khóa quần, mặc quần áo và ngồi xuống cạnh gã. Ngạo nghễ, tôi nhìn gã. Ánh mắt Quân nhìn tôi bình thản. Tôi có cảm giác Quân đang đứng ngoài cửa sổ kia nhìn vào. Quân thấy tất cả. Quân sẽ cười, hay khóc, hay giận dữ? Hả Quân? Hả tôi ơi? Quân không trả lời. Anh tan biến trong làn khói thuốc hư ảo của gã. Gã đưa tôi về những con phố ngoằn ngoèo không tên.

Vài lần nữa, khi sắp sửa đổ ập người lên thân thể trần truồng tôi, gã dừng lại. Gã bật công tắc đèn. Gã nhìn tôi như kiểu con thú đói đang nhấm nháp cái bóng của con mồi. Mãi mãi nó chẳng bao giờ vồ được con mồi thật. Gã kêu gào trong ý nghĩ. Gã biết, tôi không bao giờ là của gã. Gã thôi không còn ngạo nghễ. Gã bước ra khỏi nhà. Tôi khóc mệt mỏi trong giấc ngủ mộng mị tội lỗi. Trong mơ, tôi gặp Quân. Anh vẫn giữ mãi kiểu cười và ánh mắt ấy. Tỉnh giấc, chiếc túi màu đỏ biến mất. Lửa cháy ở góc nhà. Gã đã đốt nó. Cuộc giải thoát do gã sắp đặt. Gã ngồi cạnh những tàn lửa. Có tia màu lửa trong mắt gã. Tôi biết, cũng như tôi, gã không yêu tôi nhưng lại sợ mất tôi. Gã là một tay sát gái chưa bao giờ thất bại trong việc săn các con mồi. Tôi không được phép là ngoại lệ của gã. Gã kéo tuột bàn tay tôi và vật tôi ra chiếc giường màu trắng nhàu nát. Tôi nhắm nghiền mắt. Tội lỗi của tôi sẽ được rửa sạch. Nhanh chóng thôi! Sự trừng phạt tôi mong chờ đã đến. Gã cười gằn nhìn thân thể tôi trên chiếc giường nhàu nát ấy. Lần này, gã không từ tốn như những lần trước đó. Có lẽ, gã biết, sau đêm này, tôi sẽ không bao giờ còn thuộc về gã. Vốn dĩ, chỉ có chiếc bóng tôi bên gã mà thôi. Gã xé toạc chiếc áo trên người tôi, nhấn chìm tôi bằng những nụ hôn nhớp nhúa. Tôi không kháng cự.

♣♣♣

Tôi không còn gặp gã nữa. Sau đêm ấy, gã phóng xe như điên dại trên đường và gặp tai nạn. Giống Quân. Có điều, trong bàn tay gã, người ta tìm thấy một tấm ảnh tôi. Tấm ảnh tôi khóc.


BẾN NƯỚC MƯỜI BA truyện ngắn TRẦN MINH NGUYỆT









BẾN NƯỚC MƯỜI BA



    C úc giật mình tỉnh dậy, cô mơ hồ không biết đã là mấy giờ nhưng nghe ngoài trời vẫn còn mưa, tiếng ếch nhái râm ran đó đây vẳng lại.như khúc nhạc buồn hiu quạnh muôn thuở của đồng quê. Không hiểu sao, Cúc rất sợ đêm đen, và rất sợ nghe những âm thanh hoang dã quen thuộc não lòng kia. Bóng tối và tiếng côn trùng, tiếng ếch gọi bầy giữa trời khuya, dường như luôn gợi cho Cúc nhớ lại một quãng đời chìm nổi lao đao đã qua…

Cúc lấy chồng muộn – nhà chồng cô ở giữa cánh đồng hoang vắng, rải rác xung quanh mấy nóc nhà thưa thớt. Chồng của cô là một người nhu nhược không có chính kiến gì của riêng mình cả, mọi chuyện lớn nhỏ anh ta đều nghe theo lời ba. và mấy đứa em. Trong gia đình cô là con dâu, là chị dâu – xét cho cùng, cũng chỉ là người ngoài tộc không hơn không kém. Cúc biết rất rõ điều đó, nhưng thuyền đời đã neo bến rồi, cô biết làm sao?
Ngay tuần đầu tiên về nhà chồng, tình cờ Cúc đã có cuộc nói chuyện qua điện thoại với cô gái mà cô ta tự xưng là người tình cũ của Trứ – chồng cô.
Giọng một cô gái trong trẻo, nũng nịu:
– Anh ơi! Mấy hôm nay anh bận lắm hay sao mà không lên thăm em?
Cúc im lặng một lúc – trả lời :
– Anh Trứ có việc phải đi ra ngoài rồi. Xin lỗi! Lúc nào về tôi nói anh ấy gọi lại cho cô nhé?
Vẫn giọng dịu dàng của cô gái
– Dạ! vậy cũng được, nhưng cô là ai? Sao cô cầm máy của anh Trứ?
Cúc thành thật:
– Tôi là vợ anh ấy…
Có tiếng cười khe khẻ ở đầu dây bên kia
– Chị hỏi vậy thôi? Chứ chị biết em là ai rồi? Em là Trúc hay Trang vậy? ( tên của hai đứa em chồng cô).
Hơi ngạc nhiên nhưng giọng Cúc vẫn điềm tĩnh :
– Tôi nói thật mà, tôi là vợ của anh Trứ. Chúng tôi mới kết hôn hơn một tuần nay …
Giọng cô gái bỗng đổi khác – trủng thấp, bàng hoàng:
– Cô không nói đùa với tôi chứ? Cô quen anh Trứ khi nào mà kết hôn mau vậy?
Cúc khẻ cười:
– Tôi quen anh ấy chỉ hơn một tháng thôi, cũng là duyên phận thôi cô ạ.- Cúc ngập ngừng – Nhưng mà cô là ai?
Một giọng nói rõ to, như thét vào tai cô:
– Tôi là người yêu của anh ấy, cô nghe rõ không? Chúng tôi quen nhau đã hơn hai năm rồi? Cô là ai mà dám chen ngang vào để phá hạnh phúc của tôi hả?
Cúc cảm thấy bất ngờ – hơi xao động, nhưng vẫn gắng giữ giọng bình tĩnh:
– Tôi có biết cô là ai đâu? – nhếch cười – mà tôi có cướp tình yêu của của cô đâu chứ? Gia đình anh Trứ xin hỏi cưới tôi đàng hoàng mà? Cô muốn nói gì thì đợi anh ấy về rồi hỏi đi? Tôi xin lỗi…
Dứt lời, Cúc cúp máy. Cúc cảm thấy một nỗi băn khoăn thắt thỏm dấy lên trong lòng mỗi lúc một lớn dần. Nó như đang chẹn ngang ngực cô, khiến cô cảm thấy khó thở! Cúc lẩm bẩm : “ Sao lại có chuyện lạ lùng vậy? Vậy là Trứ đã lừa dối mình thật sao? “
Từ đó trở đi, hễ cứ vào giữa đêm khuya, hay những ngày rằm, mồng một đầu tháng – cô ta dùng những lời lẽ chửi rủa cay độc nhất với vợ chồng cô. Cúc nhớ như in hai câu nguyền rủa mà cô ta hay lập lại : “ Cô xấu quá, không kiếm được ai nên cô dùng tiền mua anh ấy phải không? Đồ trơ trẽn, đồ thâm độc, cô mà có chết thì âm phủ cũng không chứa cô”. Và “ Tôi nguyền rủa cho hai người tuyệt tử, tuyệt tôn, cả đời khổ sở, bất an cho đến chết”. Cúc đã nhiều lần khuyên và năn nỉ Trứ đổi sim điện thoại đi để không còn bị nghe những lời hồ đồ sân giận kia, nhưng chồng cô mê tín không chịu thay sim mới vì anh ta cho rằng: “ Sim anh dùng là sim ăn nên làm ra, hợp với ngày sinh, tháng đẻ của mình, đổi sẽ xui lắm em à! ”. Để trấn an Cúc, Trứ chỉ đồng ý tắt máy khi bắt đầu đi ngủ!
Trong nhà, Trúc và Trang – hai đứa em chồng, đã lớn mà vẫn chưa lập gia đình. Không phải chúng không tìm được ai cho mình, mà chỉ vì nghe cha bảo phải ở vậy lo làm nuôi cho mấy đứa em trai ăn học đến nơi đến chốn đã, mà không dám bảy tỏ ý kiến gì riêng của mình. Trong nhà này, không có tiếng nói của Trang, Trúc hay cô – mà chỉ có tiếng nói người cha – tiếp theo là Trứ, và mấy đứa em trai của Trứ mà thôi – chỉ có đàn ông là có quyền quyết định mọi chuyện lớn nhỏ cho tất cả mà thôi.
Tuy được nuôi chìu mọi thứ, nhưng đứa em trai út học hành không ra gì, năm nào cũng phải thi lên lớp hoặc Trứ phải đến từng nhà giáo viên xin thêm điểm. mà tính ngang ngược, hung dữ không ai trong nhà trị nổi. Nó hành hung Trang và Trúc – thậm chí cả Trứ, để đòi tiền mỗi ngày. Nếu không kịp đưa cho là nó đập phá nhà cửa, và đòi xua đuổi hết thảy mọi người. Nó xách đồ đạc, áo quần của Trang và Trúc và đôi khi của cả Cúc nữa – ném ra đường, Cảnh nhà xào xáo, bất hạnh như vậy thì có ai dám đến hỏi hai người em của Trứ làm vợ nữa đâu? Người xưa thường bảo, nếp nhà không có, thì làm sao có được nếp người? Tuổi xuân của Trang và Trúc cứ thế trôi đi – Trúc và Trang chỉ còn biết âm thầm giữ lại cho mình chữ tình mơ mộng trong lòng mà thôi, còn cuộc tình thật đã bị sự vô tâm của người cha, sự yếu hèn nhu nhược của người anh, và sự độc ác, ích kỉ của những đứa em lấy mất đi rồi.

Năm Trúc 30 tuổi – cô thương một người ở huyện bên, được gia đình hai bên chấp nhận. Những tưởng mọi chuyện sẽ xuôi chèo mát mái, rồi cô cũng sẽ có một gia đình êm ấm như Trâm, nhưng thêm một lần nữa – chính Trâm – cô em ruột của Trúc, đã ngăn cản không cho đám cưới kia diễn ra. ( Trâm là em kề Trúc nhưng đã lấy chồng trước hai chị vì Trâm ở nhà không làm được gì, không giỏi giang như Trúc và Trang). Không ai hiểu vì lý do gì Trâm lại đặt điều nói xấu Trúc với gia đình người yêu của cô. Vậy là cuối năm đó người cô yêu đi lấy vợ khác. Trúc vẫn một mình lặng lẽ, và không còn dịp nào để nhắc đến chuyện chồng, con nữa.
Trang cũng có nhiều lần yêu, nhưng bến hạnh phúc của cô cũng xa vời không đến được. Cô yêu Linh, và gia đình Linh đã mời gia đình cô qua thăm nhà để bàn tính chuyện hôn nhân. Nhưng gia đình cô ngày nào cũng cải lộn, rối ren, ai mà có thời gian quan tâm đến thân phận của cô nữa đâu? Ba, mẹ Linh chờ một tháng, rồi hai tháng, cũng không thấy ai qua thăm nhà – dù đã cho Linh đi mời mấy lần. Họ tự ái, không chấp nhận Trang nữa, bắt Linh đi cưới một cô gái khác trong làng.
Bẵng đi một thời gian khá lâu – một hôm, Cúc đi làm về thấy trong nhà có người đàn ông lạ, Trang cười rạng rỡ – giói thiệu với cô là bạn trai của mình. Bữa ăn tối diễn ra trong không khí thật tẻ nhạt, dường như không ai muốn chào đón, thân thiện với người con trai lạ tên là Cường kia? Thấy vậy, Cúc phải tìm chuyện để hỏi, tìm chuyện để nói cho anh ta bớt ngượng, được tự nhiên – và cô em chồng của cô bớt khó xử. Người con trai ở chơi với Trang, với gia đình cô hai ngày và từ giả về quê, với lời hứa hẹn là mồng ba Tết sẽ đưa ba vào thăm nhà tiến hành lễ hỏi.. Nhưng anh ta ra đi và mang theo luôn lời hứa kia, bỏ lại Trang mong ngóng từng ngày. Mồng mười tết, Trang buồn đi xem bói, bà thầy bói lẻo mép ác tâm đã phán rằng: “ Anh ta có quay trở lại tìm Trang nhưng gặp một người phụ nữ khác trong gia đình ngăn cản nên thôi ”. Và bà còn nói thêm: “ Anh ta rất thương yêu người phụ nữ ấy… ”. Thế là mọi nỗi nghi ngờ đều đổ dồn cho Cúc, vì trong ngôi nhà này ngoài Trang ra chỉ có Cúc là đối xử tốt với Cường hai hôm anh ta có mặt ở đây mà thôi.
Trang gào khóc :
– Tôi biết là ai trong cái nhà này làm chuyện đó rồi? Đồ tồi bại, người yêu của người khác mà cũng muốn cướp…
Ba chồng Cúc đột nhiên nhìn thẳng vào mặt cô và hỏi:
– Hôm mồng ba, chồng con đi thăm xuân bạn bè, đồng nghiệp con không đi cùng, sau đó con đi đâu suốt buổi chiều vậy?
– Thì con cũng đi thăm bạn cùng công ty mà – Cúc cố bình tĩnh trả lời
– Em đi thăm những ai? – Chồng cô chen ngang
Cúc cảm thấy mọi người nghi ngờ mình, cô cảm thấy như nghẹt thở, cô hét lên:
– Tôi thăm ai là chuyện của tôi? Tôi có quyền mà, nhưng tôi nói để mấy người biết, tôi không làm ba cái chuyện trái đạo lí nhơ nhớp như vậy đâu?
Chồng cô quát to:
– Em im đi, nếu không có ý gì, sao em lại thân thiết nói chuyện với thằng đó như vậy? Và mồng ba nó vào, mồng ba em lại đi hết cả một buổi chiều, như vậy là thế nào?
Cúc không ngờ Trứ lại cư xử với cô như vậy. Không nói thêm một lời nào, cô chạy vào buồng, đóng sập cửa lại – bỏ mặc Trang lăn khóc, chửi rủa, và những lời lẽ cay độc của người chồng đầu ấp tay gối kia như ngọn lửa gặp cơn gió dữ.

.
Đứa em trai út của Trứ ngày càng hung tàn hơn – nó đánh đập hết thảy những người trong nhà không kể giờ giấc nào. Ban đầu, Cúc đưa tiền cho nó để được yên thân, nhưng càng ngày nó càng đòi nhiều hơn, cô không còn đủ tiền để đưa nữa – nó đập nát đồ đạc trong buồng hai vợ chồng cô, và đuổi tất cả mọi người ra đường. Cúc rất muốn về nhà mẹ, nhưng cha, và chồng cô không cho bảo như vậy là làm xấu hổ cho họ, với lại cô cũng không muốn cha, mẹ cô biết mà đau lòng. Đành phải ăn bờ ngủ bụi thường xuyên.
Cúc có thai, cô muốn thuê nhà ở gần công ty để dưỡng thai, và tiện việc đi làm – nhất là được yên thân mà nuôi con – nhưng cả cha chồng, và chồng cô đều phản đối. Chồng cô bảo: “ Cô muốn mướn nhà ở riêng để dễ bề trai gái hả? Bà thầy bói đã nói với tôi về cô rồi: “ Cô gái ấy đa tình, có nhiều người thương, cô ta rất dễ phản bội, ngoại tình! ”. Vì vậy cô phải đi về mỗi ngày ở nhà này nếu cô muốn còn là vợ tôi…”. Sau đó không lâu, không hiểu vì đoạn đường đi làm xa, vì nỗi buồn lo thường xuyên ám ảnh, hay vì lời nguyền rủa “ tuyệt tử, tuyệt tôn” hiểm độc của cô nhân tình ngày nào mà cái thai bốn tháng trong bụng Cúc còn không giữ được, đã chết lưu .
Trong nỗi đau buồn vì mất con của Cúc – Trứ hầu như không quan tâm gì đến cô. Anh hay đem Cúc ra so sánh với hết người này đến người khác. Và có lúc còn lớn tiếng nói: “ Sai lầm lớn nhất của anh là cưới cô ”. Chưa hết, một hôm Trứ còn bảo thẳng với cô : Anh đã có một đứa con trai trước khi cưới cô, nhưng vì mẹ nó không nghề nghiệp. chỉ bán gánh bún rêu thôi nên ba anh không chấp nhận. Anh thuyết phục cô chấp nhận cho anh đi lại với người phụ nữ kia, để con anh được nhận tổ tông, dòng họ…
Đến ngày ba chồng cô ngã bệnh, nằm liệt giường đã mấy hôm, nhưng mấy anh chị em chỉ lo cải vả, chạnh chọe nhau, không ai lo chạy chữa thuốc men gì cho ông cả – lại tin lời của bà thầy bói nào đó bảo thằng út bị ma nhập, nên quay về phá nhà, dẫn đến ba chồng phải đau như vậy chứ không sao. Không cần thuốc men gì cả. Phải bầy mâm cổ cúng vái ba ngày ba đêm sẽ khỏi bệnh ngay thôi. Sau khi ba chồng cô mất, mấy anh em lại liên kết lại đổ tội cho Cúc, bảo rằng cô khắc tuổi với ông dẫn đến hại ông chết. Như bao lần – Cúc không dám cải lại. Cô thầm nghĩ: Lý lẽ, sự thật – không hề có ở nơi con người mù quáng, mà không còn có trái tim!
Sau khi cúng ba ngày của cha chồng, Trứ đuổi cô ra khỏi nhà .
Anh ta nói:
– Cô còn ở đây làm gì? Cha tôi mất rồi, tôi không muốn sự hiện diện của cô trong ngôi nhà này nữa. Cô hãy về nhà của cô đi?
– Nhưng vì sao vậy? Em cũng hết lòng vì cái gia đình này mà, giờ ba mới mất sao anh lại đuổi em? – Nước mắt Cúc ràn rụa.
– Lúc ba tôi còn sống, cô không lo được gì cho ông, ngay cả một chén cháo cũng không nấu được, cô xung khắc làm hại chết ba tôi rồi, cô còn muốn ở lại ngôi nhà này sao?
Không thể chịu đựng thêm nữa, Cúc nức nở – nói gằn từng tiếng trong cơn uất hận::
– Tôi không làm ba ông chết, mà ông ấy chết là bỡi sự bất hiếu, ích kỉ, nhu nhược, mù quáng của anh, em nhà ông. Có ngày nào mà anh em ông để cho ba yên đâu, lúc nào cũng đánh lộn, cơm ăn bữa đói, bữa no, ngủ thì khi bờ, khi bụi. và đến khi ngã xuống đau, anh em ông lại hùa nhau tin vào bói toán, không lo chữa trị cho ba viên thuốc nào, thì sao quay lại trách tôi chứ?
Trứ đập tay xuống bàn, giận dữ hét lớn:
– Cô ra khỏi nhà tôi mau, Tôi chỉ có một người cha thôi, còn vợ thì tôi tìm đâu mà chẳng có, cô không lo được cho cha tôi, mà còn hỗn hào như vậy à? Cha tôi mới chết mà cô đã làm loạn hết lên rồi.
Cúc nói như người say – giọng ráo hoảnh :
– Ông và anh em ông trách tôi chưa từng nấu cháo cho ba? Nói vậy cũng nghe được à? Từ ngày tôi về làm dâu cái nhà này, tôi phải ngày hai buổi nai lưng ra làm kiếm tiền để lo cho cái gia đình này, mấy anh em của ông ở nhà cả mà, có ai làm gì ra tiền đâu? Không nấu cháo cho ba được hay sao?
Ở nhà ngoài, mấy đứa em chồng cô dấm dẳng chửi bới, mạt sát cô.
Trứ giơ tay lên định tát vào mặt Cúc nhưng nghĩ sao lại thôi – anh bỏ đi ra ngoài đóng sầm cửa lại.
Điện thoại reo – ba Cúc gọi. Ông bảo cô hãy lo thu xếp đồ về nhà ngay. Cúc không biết Trứ đã điện thoại nói gì với ba cô, mà giọng ông buồn buồn: “ Con về nhà mình đi, đừng ở đó nữa, người ta đã xua đuổi như vậy rồi, con còn luyến tiếc gì nữa? ”. Cúc thẩn thờ đứng dậy – bước vào buồng – xếp vội đồ đạc. Ngay tối hôm ấy – Cúc rời khỏi ngôi nhà như chốn địa ngục kia…

Cúc về lại nhà mình, cô cảm thấy vừa buồn nản, vừa thất vọng – nhưng tình cảm ấy không còn bám theo cô lâu – nó đã bị chai lì đi từ bao tháng năm – đổi lại, là một cảm giác an bình , nhẹ nhỏm – không còn phải chịu đè nén ấm ức, nơm nớp lo âu – hay luôn bị dày vò, ray rức nữa. Và cô đâm ra sợ những con người trong cái gia đình u ám kia – sợ cả người chồng bạc nhược hẹp hòi – cô tự hứa – sẽ không bao giờ quay trở lại chốn tối tăm ngục tù đó nữa. Cô muốn tự do. Thong dong với cuộc sống hiện tại không còn dài của đời cô. Cúc nghĩ: “ Thà lênh đênh giữa dòng nước xoáy, còn hơn phải cập bến tình ngầu đục nhơ nhớp cheo leo như vậy !”.
Điện thoại bổng báo lại có tin nhắn. Là của Trứ. Từ ngày li hôn đến nay, ngày nào anh ta cũng nhắn tin cho Cúc cả. Trong tin nhắn lúc nào anh ta cũng nói là rất ân hận, và yêu thương cô nhiều, muốn cùng cô đi hết quảng đời cuối. Vậy mà hôm nay anh lại tráo trở gởi tin : “ Anh sắp cưới vợ, một người vợ ngoan hiền , có nghề nghiệp đảm bảo – biết nghe lời chồng chứ không bướng bỉnh hư đốn như cô đâu! ”. Một thoáng buồn. Và, Cúc cảm thấy thương xót cho người phụ nữ sắp đi qua đời Trứ – sẽ tấp vào người chồng nhu nhược, ích kỷ và ác tâm như anh ! Rồi cuộc đời sẽ ra sao nơi cái bến ngầu đục thù hận, ích kỷ ấy? Cúc thở dài – nhớ đến lời của người xưa: “ Đời người con gái mười hai bến nước, tìm được bến trong thì suốt đời hạnh phúc, còn phải bến đục thì khổ cả một đời… ”.

Cúc chợt mỉm cười – một niềm vui lóe lên trong tâm hồn cô như tia chớp cực mạnh giữa màn đêm dày đặc : Riêng Cúc, cô sẽ chọn cho mình bến nước thứ mười ba…


CHÀNG VĂN SĨ ĐẤT TỀ truyện ngắn THẾ PHONG








CHÀNG VĂN SĨ ĐẤT TỀ





   B ước chân qua cửa hiệu ăn quen thuộc, tôi nhớ đó là quán cơm Tàu có món xá xíu rất ngon. Nhất là vào buổi chiều một ngày áp Giáng sinh, tôi muốn ăn một bữa cơm tiệm.
  Đã từ lâu lắm, từ ngày tôi lấy vợ đến nay, dạo phố, tạt vào quán hàng không còn là một thú giải khuây nữa.
  Vừa tốn tiền, vừa chẳng ích lợi gì; theo vợ tôi, thì không được đứng đắn con người cho lắm. Chẳng hiểu khi vợ tôi nói thế, tất cả những khách vào quán hàng không tươm tất cả sao? Tôi không phản đối, không giải thích, thực ra câu nói kia chẳng có hại gì. Tính nết tôi dạo này cũng có phần thay đổi. Ít nói, ít khi gặp anh em, có khi hàng dăm bẩy tháng mới gặp nhau một lần là thường. Một vài anh bạn già thường mai mỉa:
  -Cái thằng này từ đây bắt đầu thay tính, sống có vẻ tu tỉnh.
  Tôi vào trong hiệu, người bồi Tàu già đời, trước kia với tôi ông ta quen thuộc quá. Ông nhếch mép cười lúc bày bát đũa và cười cười gặp người quen, cộng với một thứ tình cảm chiều chuộng đáng yêu biết bao nhiêu! Tôi để ý nghĩ ấy đi qua và nhớ đến lúc vợ tôi trao một nửa số tiền bán quyển tiểu thuyết cũ Con Trâu của Trần Tiêu. Tôi nghĩ đến, cứ mỗi dịp cuối năm, vào ngày tháng này, vợ chồng chúng tôi bận lắm. Cả một chuỗi ngày dài; gần như là ba mùa, tôi phải lang thang khắp các tiệm cho thuê sách, đặt hai chục tiền cọc một cuốn, rồi không bao giờ đem trả nữa. Số sách quí kia cuối năm đem ra bầy ngồi đường chào bán. Cả dãy phố Bonard này, đã mấy năm nay, người ta đều biết mặt người đàn bà kia, vợ tôi có sách quí. Nhưng bán đắt lắm. Tôi vừa thổ lộ tâm sự với bạn, vợ tôi khi trao một trăm, già nửa số tiền bán cuốn sách kia; gọi là thưởng cho tôi đi lang thang như thuở nào- vợ tôi biết tôi có tính ấy. Khách hàng mua cuốn kia, chắc bực dọc với mụ bán sách cũ đanh đá- như vợ tôi kể lại :
  -Mình ạ, em vừa bán đấy. Ông khách nhìn một lúc thật lâu, hỏi em Con Trâu kia, cô bán bao nhiêu, có cho phép trả giá không? "Em bảo hai trăm. Ông ta cầm lên trả ba chục". Em đỡ lấy cuốn sách trả lời; "Thưa ông, khi tôi nói hai trăm là bán trăm tám, chứ không phải ba chục ạ”.
  Ông ta tần ngần một lúc, hỏi em có đủ trang không, em gật đầu; ông ta rút ví móc tiền trả, không mặc cả thêm một câu nào rồi cầm sách ra đi. Ông không cần đến em gói, hình như là một người quí sách lắm.

**

  Tôi không hỏi gì thêm, ngồi khen vợ; còn là tự khen tôi chọn được sách hay thuộc lọai quí, hiếm. Bằng một câu nói:
  - Em bán sách cũ cũng tài lắm và anh chọn sách ba mùa cũng không tồi. Chẳng thế mà chúng ta sống trong xã hội này, chỉ cần làm một mùa, ăn ba mùa. Em có biết như thế cũng là góp công vào sự vun trồng giá trị văn chương không? Anh kể cho em nghe một câu chuyện xưa. Có một người mua một bộ xương ngựa giá một trăm đồng tiền vàng…
  Nhưng vợ tôi gạt đi, hẹn đến tối về sẽ kể. Bây giờ là lúc khách mua đông nhất.

**

  Và nàng cho phép tôi đi chơi, lang thang đến quán cơm Tàu này.
  Cơm vừa bưng ra, phải rồi, quán này đông khách lắm. Thịt gà luộc trắng phau, béo ngậy, cơm nấu bằng gạo nàng Hương với nước súyt gà lại rẻ, đúng vào chiều thứ bẩy, khách đông nghịt.
  Bây giờ ngồi đèn đường đã lên. Ông già Tàu bảo tôi:
  - Thầy đi đâu lâu quá vậy, hơm nay mới tới. Mạnh giỏi chứ, có phát tài không?
  Tôi gật đầu cảm ơn. Rồi đưa tay với bình trà uống một ly trước khi ăn.
  Bỗng tôi nhìn thấy một anh bạn trẻ không quen, nhưng biết mặt. Chẳng là vào một sáng chủ nhật, cách đây khá lâu rồi, anh ta đã lấy trộm cuốn thơ Spectacles của chúng tôi.

**

  Câu chuyện này khá dài, chẳng là tôi chưa kể cho bạn nghe, như tại sao tôi lấy vợ, tại sao tôi quen người Tàu bán sách xon? Ngày xưa, tôi làm gì, bao nhiêu tuổi, quê quán ở đâu. Và cũng tại sao tôi vào nghề này?
  Tất nhiên khi quen nhau, không mấy ai ngồi tự giới thiệu mình bằng những câu nói chướng tai như thế- nghĩa là phải chọn lúc mà thổ lộ tâm tình. Câu chuyện này, hầu như là tôi giấu hết mọi người, ngay cả với vợ, bạn thân cận nhất bây giờ. Nhưng với bạn, chưa quen biết, tình cờ gặp trong câu chuyện này, tôi vẫn phải khai, khai một cách tình nguyện.

**

  Bây giờ, bắt đầu kể chuyện bạn trẻ, tạm gọi là Spectacles, hay tên việt-hóa, anh Jacques Prévert. Anh ăn cơm ở bàn kia rất ngon lành, điệu bộ ấy ai ở cạnh bên mà chẳng biết?
  Anh còn trẻ, khỏng chừng hăm lăm, hăm sáu chi đó. Thành phần xã hội thuộc vào loại ? Chắc chắn là một nghệ sĩ hay một người thích thơ văn, ưa giãi bày tâm sự bằng cảm giác rung động nhận diện được trong cuộc đời. Nơm na hơn, theo tôi dự đoán là đang trong tình trạng tạo dáng vẻ nghệ sĩ, thích tỏ ra là khác người.
  Nghệ sĩ hóa Jacques Prévert để tóc hai mái dài, bù xù, không cần trưng diện, vì nghèo, vì tình muốn khác đời. Chắc nghệ sĩ hố kia cũng giống như tôi ở thuở xa xưa làm dáng. Trước khi thành nghệ sĩ, bao giờ cũng không muốn giống nhân thế và nhân thế dưới mắt chàng chẳng đáng giá một kí lô nào. Nhà nghệ- sĩ- hóa ăn cơm, không gọi từng bát cơm như tôi, mà ăn một đĩa cơm lớn gồm cả thức ăn, gia vị, gọi là cơm đĩa.
  Tôi và anh ta ngồi cách nhau một cái ghế trống bàn tròn của hiệu Tàu, bạn còn lạ gì, bàn được xếp ngồi hàng chục người mà rất có thể chẳng ai quen ai. Anh ta ăn gần xong, lấy tăm xỉa răng, lấy điếu thuốc lá lẻ mất nếp trong túi ra châm lửa hút. Và gọi một ly cà phê đen nhỏ. Anh ta rút tiền, đếm đi đếm lại, cầm sách đặt ở ghế bên đứng lên định ra về. Rồi không hiểu sao, anh ta lại ngồi xuống, vẫy bồi đến gọi thêm thức ăn. Gần phía quầy trả tiền, tấm lịch treo lớn, con số 24, không ai không biết hôm nay là Giáng Sinh.

**

  Ngoài kia, người ta đi nhà thờ đông như hội. Tôi chẳng hiểu đây có phải là món quà mà vợ tôi thưởng cho nhân dịp Giáng sinh không? Đã hai năm lấy nhau, cứ vào ngày này, thế nào tôi cũng được vợ thưởng tiền. Điều ấy không phải vợ tôi theo Thiên chúa giáo ban ân, hay nàng cho tôi có lệ quen đến nhà thờ mà vẫn là dân ngoại đạo. Thực ra tôi là dân ngoại đạo, nhưng tôi rất có cảm tình với tiếng chuông buổi chiều, cũng như ban mai vào lúc năm giờ. Hình ảnh, âm thanh kia, với tôi như một khích lệ cao đẹp. Bởi tôi là người có một thời yêu cái đẹp, bất cứ cái đẹp nào; nói khác đi, yêu với tình cảm đam mê của người nghệ sĩ.
   Oscar Wilde còn sống, hẳn liệt tôi vào một thứ bien- commmisaire-priseur (kẻ biết định giá tài giỏi).

***

   Trở lại câu chuyện của anh bạn trẻ kia bắt đầu đầu gọi ăn thêm. Anh gọi một bát cơm và đĩa xá xíu. Hai chén cơm đã hết, anh gọi thêm một chén cơm nữa, vì thịt xá xíu hãy còn.
   Tôi cũng vậy, bữa nay, tôi muốn uống thêm một ly rượu, thêm đĩa thịt nhắm, một thứ gì hợp khẩu vị cho tôi một thoả thuê. Tự nhiên, tôi tự thưởng một đặc ân như vậy. Và cũng rất tự nhiên mà tôi biết được anh ấy thiếu tiền, và cơn đói như là một thèm khát đòi hỏi. Đĩa thịt xá xíu của anh ta vẫn còn, bây giờ đây anh ta đang lần lần ăn vã.
   Tự nhiên tôi nẩy ra ý nghĩ làm sao giúp được anh có thêm một chén cơm nữa trôi theo với mấy miếng thịt xá xíu còn lại. Mà điều này không dễ dàng, chúng tơi chưa thực sự quen nhau, sự giúp đỡ kia lộ ra một cử chỉ nào thiếu tế nhị, tất xảy ra chuyện không hay. Thứ nhất, dù anh ta có đói, anh ta có quyền không nhận ân huệ kia, dầu chỉ là một bát cơm giá tiền một hai đồng gì đó để thỏa mãn một khoảnh khắc trong lúc thiếu thốn, một nấc dạ dầy non độ nhịm thèm. Thật nan giải, riêng tôi vẫn có tính hay tham dự vào điều khó khăn, khi nhất định tham gia là phải cầm phần thắng trong tay. Tình-nguyện-tính trong tôi không thể thiếu cho việc như thế này, cho nên cả cuộc đời tôi vẫn long đong; mà như ngạn ngữ phương tây, đó là một hòn đá lăn quá nhiều vòng không bao giờ có rêu bám vào. Tôi nhận là đúng!
   Tôi cũng gọi thêm một đĩa cơm đĩa. Tôi đưa mắt sang anh ta, hỏi rất bặt thiệp :
   -Anh có thể cho tôi mượn cái bát không được chứ?
   Bát không, chẳng phải là bát ăn thừa, mà là bát chứa cơm anh ta vừa trút sang bát khác.
   Anh ta gật đầu vui lòng. Tôi bắt đầu thấy hơi vững dạ. Rồi tôi lấy chiếc bát đó đựng gia vị; điều này thực ra không cần thiết, lẽ người bồi Tàu đã có bát nhỏ cho tôi chứa gia vị. Tôi mượn anh ta một cái bát không nữa, đến cái thứ hai, anh ta hỏi:
   -Sao ông không ngại bát ướt sao?
   -Không anh ạ, tôi háu đói, gọi họ lấy bát mất công đợi lâu. Điều quan hệ là anh bằng lòng cho tôi mượn chứ?
   Anh ta lại gật đầu.
   Rồi thừa cơ lúc tôi ăn, mà anh ta cho là tôi mê mải, anh ta lại đếm tiền và nhìn đĩa xá xíu còn lại mấy miếng. Hình như anh ta còn đói, gọi thêm hai chén cơm nữa, điều này tơi mừng lắm. Tôi phải ăn vội vàng, làm sao cho mau hơn anh ta, để sau đó người bồi Tàu có thể tính tiền vào phần tôi. Nếu anh ta ở lại sau tôi; thì sẽ bị tính vào phần anh, điều này làm anh ta thẹn vì thiếu tiền trả. Ăn xong, anh ta quay sang bắt chuyện với tôi:
   - Hiệu này ngon nên đông khách. Ông cũng hay đến đây ?
   - Vâng, thỉnh thoảng. Trước kia tôi là khách quen của hiệu này.
   - Tôi hỏi thế này hơi tò mò. Bây giờ ông ở xa hay sao mà không còn là khách thường xuyên nữa?
   - Tôi có gia đình rồi nên ít trở lại. Trước kia tôi cũng độc thân như anh, có lúc ăn thiếu tiền mà chủ quán cho thiếu đấy. Ông chủ kia quen khá thân với tôi.
   Ý tôi diễn dịch như vậy là gián tiếp thông cảm với hoàn cảnh túng thiếu của anh hoặc giả trong lúc còn độc thân, tiêu quá tay thiếu tiền là chuyện thường. Anh ta như hiểu được, thân mật đáp:
   - Vâng, cũng đúng như tôi bây giờ chẳng hạn. Ai trong tình trạng độc thân đều thông cảm ngay với điều ông nói. Rồi anh vội nhìn đồng hồ, vội vàng như có chuyện sắp phải đi. Anh ta vội vàng cả lúc trả tiền nữa. Phút này với tôi rất hồi hộp nhất, tôi thành công trong việc giúp đỡ anh ta mà vẫn coi như là không cố ý; ân tình kia sẽ dồn vào ý nghĩ, che mắt bọn Tàu dốt không biết tính tiền. Một điều ngạc nhiên nữa, anh ta đi ra thật nhanh, không kịp bắt tay hoặc một lời từ biệt. Tuy điều này sửng sốt, tôi lại cho rằng đó là lý do đừng làm khổ nhau; đừng bắt nhau nhận một ân huệ nào.
   Tôi đồng ý như thế, lòng vui dâng dâng.

***

   Tôi là nhà văn. Đúng hơn là nhà báo từ thời tiền chiến. Nghiện hút là điều tất cả mọi người, ai cũng mắc cả. Có nàng tiên nâu là hứng cảm nghệ sĩ, mới tạo được bài vở cấp thiết cung cấp cho tòa soạn.
   Ban đầu, tôi không sao tin rằng khi nghiện, con người mất lương tri; nhất là dựa vào nhân sinh quan nghệ sĩ, giai cấp được coi cao nhất của xã hội thời ấy, một trong mẫu người dẫn lối cho ngày mai xán lạn. Nhà tôi là một trong gia đình có chức tước ở quê. Tôi được gửi lên tỉnh học. Với tiền của gia đình cung cấp, tôi thường dùng vào nhiều cuộc trác táng, truy hoan. Tôi không chịu học hành, bỏ dở tất cả cơ hội còn trẻ xây dựng tương lai. Trong lớp, tôi quen một anh là con chủ báo, nên qua sự giới thiệu này, tôi có bài đăng một cách dễ dàng. Tôi bắt đầu trở thành người lớn từ đấy, in danh thiếp chữ nổi với hàng chữ Hồng -Trọng, thi văn sĩ, bỉnh bút các báo ở thủ đô. Ăn chơi, hút sách, trai gái, chán đời; nhiều lý do chính đáng trong đời một thanh niên đương thời vào giai đọan bị Pháp thống trị. Thực ra sau này, tôi mới biết là không có tài năng, có chăng chỉ là tiểu xảo, lại hỏng là không nhận diện được ngay ban đầu; lại còn ôm ảo ảnh, nên đời tôi coi như bỏ đi rồi. Thơ văn chỉ ca tụng nàng tiên nâu, tất nhiên tôi thuộc cháu chắt đệ tử nhà thơ Pháp Jean Cocteau, lãng mạn trữ tình ủy mị kiểu Lamartine, tư tưởng kéo con người về với dã thú Jean Jacques Rousseau.
   Tôi cũng là tác giả một bài khảo luận bàn về sự tiến hóa con người, đại để như sau:
   "… Lắm khi tôi nghĩ rằng sống ở thành thị, con người hóa hèn, tranh cạnh miếng cơm, manh áo. Cuộc sống tinh thần khúc mắc, phiền tóai; còn gì ao ước hơn là được trở về đời sống sơ khai, dã thú trên rừng. Ngày ngày, hai bữa cơm rau, rong chơi, nghêu ngao với bầu thơ, túi rượu có chú tiểu đồng theo sau ngày tháng tiêu dao tuế nguyệt. Tôi rất phục lối sống Nguyễn Tuân thời nay, với lối văn kiêu sa khinh bạc đời và lối ăn chơi phóng túng. Tôi kể lại câu chuyện của chàng văn sĩ mà có lẽ bạn đọc chưa biết. Có vợ, nhưng cuối năm mới về nhà một lần, là sau ngày vợ sinh con cách cả năm trời. Còn vợ con ốm thì không hề nghĩ tới. Nhưng luôn phải có tiền mua hoa tặng người tình. Chỉ có ma bien aimée mới tạo cho nhà văn hình tượng, cảm xúc mới; mà điều ấy là hứng cảm duy nhất tạo ngôi bất tử văn chương. Rồi đến nghệ thuật chơi hoa. Bạn có biết nhà văn chơi hoa ra sao không? Tháng rồi năm thường có mặt ở sân ga, với chiếc va li mà trên đó đầy những dấu triện nhà ga kiểm nhận. Cuộc đời nay đây mai đó ấy, đã gieo rắc bao nhiêu mối tình thơ mộng, mang hình bóng, phong thái tài hoa! Kiếp này ta chưa dâng trọn cho giang hồ, cho bầu thơ, cho chủ nghĩa vị kỷ; ắt sau còn người nối dõi theo chân…"
   "Mai sau khi tôi chết đi, hãy lấy da thuộc làm va li và hạnh phúc của tôi là trên những sân ga", tôi cũng rất bái phục bậc thầy Paul Morand có tư tuởng giang hồ, lấy thú vui trên sân ga như Nguyễn Tuân vậy.
   Tôi sống bằng ảo ảnh, tư tưởng ngọn của nhà văn thơ Pháp. Tôi không anh hùng như họ, lăn xả vào đời; nên chỉ còn theo được một vài cảm giác ân huệ thừa. Sáng tác của tôi gần như cập nhặt, sao trích của họ; riêng tôi làm gì có rung cảm của chính bản thân!
   Tôi biết như thế là điếm nhục, song tôi vẫn che đậy bằng lời biện hộ cao quí. Ban đầu tôi làm để che mắt người ngoài hay bạn bè nông nổi ít suy tư. Nhưng sau chính ảo ảnh kia đã lừa dối chính tôi. Một ngày nào đó, tôi tự mang vào đầu óc như mình là bậc tài hoa ở trên đời, nhân thế mắt trần tục, làm sao hiểu nổi tâm hồn thanh cao được?
   Tôi sống cuộc đời thơ mộng trên ý tưởng và chưa bao giờ tôi có thái độ hoặc phong thái cao đẹp. Rồi tới một ngày nào đó, tôi hoàn toàn bỏ học. Cha mẹ tôi bắt về cưới vợ. Tôi vẫn gửi bài lên Hà Nội và từ ngày bạn con chủ báo kia long đong, báo của ông thân sinh tự đình bản; tôi khơng còn chỗ nào nương tựa đăng bài. Cũng may mắn, cha mẹ tôi thấy tôi có tên trên một vài bài thơ văn, hoặc đề cập đến một vấn đề tư tưởng trọng đại nào đó; thì kể lể với hàng xóm con mình là bậc thức giả, không chịu luồn cúi quan trên, độc lập tư tưởng, luôn nghĩ đến đồng bào, bênh vực quyền làm người.
   Và hậu quả của sự tâng bốc kia, tôi bị Sở Liêm phóng Tây điều tra, tôi bị mất tự do một thời gian ngắn.
   Thời kỳ này tôi vẫn đem ảo ảnh kia mang trong mình để làm bùa hù dọa kẻ dễ tin thực ra có người tưởng tôi bậc ái quần, ái quốc, họ cũng khâm phục là người tranh đấu quyền lợi cho dân bị trị.
   Thực ra cũng chỉ là thứ ân huệ ảo ảnh của nhân vật kém cỏi, yếu hèn, bỉ ổi như đời gọi là complexe cornévienne của Charles Plisnier.(*)

***

   Sau thời kỳ được thả ra tù, làng nước quí mến tôi hơn, đến cả cha mẹ tôi cũng tin như vậy. Tôi càng tạo cho mình có dáng con người yếm thế, vẻ buồn xa xôi, thâm trầm. Cứ như thế, tôi mới đủ can đảm sống tiếp cuộc đời còn lại.
   Khi Pháp tái chiếm Hà Nội, nhờ anh bạn con chủ báo xưa kia có chân trong đó, nên tôi được mời ra làm việc. Thời gian này tôi lấy vợ khác, sống ở thành êm ả. Vẫn là đệ tử của nàng tiên nâu, lấy thú truy hoan làm cứu cánh, nghĩa sống cuộc đời. Đứa con trai đời vợ trước đã lớn, nó rất ghét tôi và thương mẹ rất mực. Nó tham gia cứu quốc, lên án tôi phản phúc, chó săn cho Tây giết đồng bào, làm hại tổ quốc.
   Trước ngày di cư vào Nam, tôi hết sức tránh né gặp nó.

***

   Tôi biết thân phận tôi, không thể nuôi ảo ảnh cuộc đời bằng mánh khóe lừa lọc tiểu xảo. Tôi dịch thuê chữ Hán cho một ông Nghè, nhân dịp này tôi làm quen với một bà chủ hàng cà phê, tuổi trạc tứ tuần còn tốt nước da, sạch mắt với khách đa tình. Nhờ bảnh bao của dáng ngoài bốn mươi, còn diện mạo nho sinh khoa bảng, nên bà cũng dễ để mắt tới.
   Có một lần, tôi được bà ta niềm nở bắt chuyện, rồi sau một lần :
   - Ông ở lại, em có chuyện muốn thưa với ông.
   Bà ta nói xong còn trao tặng tôi nụ cười tình âu yếm.
  Tôi làm theo lời.
  Rồi từ hôm ấy, tôi còn là chủ danh dự một quán cà phê ấm cúng. Và chung sống chưa được bao lâu, cuộc đời tình ái chắp vá này va chạm đến tự ái của thầy đồ nho, tôi bỏ ra đi.
  Và đến xóm này, nơi mà tôi gặp chú Ba Tàu và người vợ hiện tại bây giờ.

***

  Tôi không cho một ai biết về hình bóng dĩ vãng. Với vợ tôi, nàng chỉ biết là xưa kia tôi làm báo và có một thời kỳ làm cố vấn cho ông Tàu bán sách xon.
  Ở một tòa soạn khác, bà chủ làm quản lý với quyền hành giám đốc kiêm chủ bút. Tôi được vời dịch một truyện Tàu Kim Bình Mai với cách làm sao khơi được dục tính con người để lôi cuốn độc giả.
  Bà quản nhiệm là vợ một ông lớn làm chính trị, loại người này rất ít khi để ý đến đời sống vợ con. Con bà ta thuộc loại đàn bà khêu gợi dục cảm, trạc tuổi người vợ chủ quán cà phê cũ của tôi. Bà không đến nỗi so kè về tiền nong, nên tôi chưa bao giờ thấy nhược điểm. Có đôi ba lần, chúng tôi trò chuyện với nhau khi uống trà tầu, đôi ba lần bà trả tiền cho tôi rất sòng phẳng hết sức, nói thực ra là tôi được biệt đãi. Và mối tình này gần như không kín đáo, bị một anh quản lý làm trị sự phá đám. Tôi lại bị thất nghiệp và truyện dịch bị cắt nửa chừng. Tôi khơng tiếc về chuyện này và mất một nguồn tài chính nuôi sống hàng ngày.

***

  "Trời sinh voi trời sinh cỏ", châm ngôn sống của tôi mỗi khi gặp bĩ cực. Mỗi lần cuối năm, ông Tàu sửa soạn bán sách xon, tôi qua nhà chơi tiện thể hỏi mua sách cũ không? Đang lúc túng tiền, tôi bán cho ông được một số sách văn học quí hiếm. Ông ta cũng có một bà vợ người Tàu, nên bà này cũng quí trọng tôi. Càng ngạc nhiên hơn nữa, bà ta mời tôi ăn cơm với chồng bà, bữa cơm rất thịnh sọan. Chú Ba Tàu bảo tôi rằng vợ chú rất quí tôi, có phải vì tôi đã sang Trung Hoa rồi phải không? Thực tình mà nói, tôi có sang Tàu bao giờ đâu; nhưng tôi cứ ra dáng nói là có qua Côn Minh vào thời gian trước năm 1944. Lần ấy, tôi theo sang đấy làm cách mệnh chống Pháp, đi buôn thuốc phiện để đổi súng pạc họoc. Tôi kể lại nếp sống bên ấy, không ngờ bà ta rất thích; dễ hiểu thôi; họ xa quê hương nay thấy có người biết chuyện đất nước họ, điều ấy khiến họ dễ có thiện cảm. Bà ta hứa làm mối cho tôi một người vợ Bắc, một cô gần ba mươi rất ngoan, và hơn một lần đã gặp tôi ở nhà bà. Tôi cho chuyện ấy nói đùa cho vui, không mấy lưu tâm. Ăn cơm xong, tôi và chú Ba vào xem kho sách. Quả là có nhiều lọai báo cũ quí giá, nhiều cuốn truyện Pháp ở đây không còn nơi nào có mà giá lại rất rẻ, chỉ dăm ba đồng một cuốn.

***

  Tôi góp ý cho chú, giải thích cho chú loại sách nào bán được nhiều tiền và tâm lý của người mua sách cũ. Qua lần ấy, chú sang chơi và hết lòng tán thưởng tài tư vấn của tôi. Vì chú được lời nhiều, gửi lại cho tôi, gọi là lòng thành để tôi uống cà phê, hút thuốc lá. Và chú còn cho tôi một công việc làm cố vấn sách xon từ đấy.
  Một lần chú bảo tôi có đi Sài Gòn xem chú bán sách không? Không bận việc nên nhận lời và chính lần này gặp vợ tôi bây giờ. Nàng không có cha mẹ ở đây, còn một người họ hàng xa, tuổi cũng qua thời xuân sắc, đúng đắn, đảm đang. Nàng cũng buôn sách cũ. Sau chúng tơi lấy nhau,vợ tôi có một sắc đẹp bình thường, điều này với tôi không quan trọng.
  Hai năm qua là hai vụ bán sách cũ rồi, chúng tôi kiếm đủ miếng sống. Chúng tôi vẫn chưa con cái nên chẳng có gì bận rộn.
  Lần tôi gặp nhà-nghệ-sĩ-hóa Prévert lấy trộm quyển Spectacles của chúng tôi ở lề đường, tôi không phát giác, vì tôi nhận thấy điểm này: anh ta có phong thái một nghệ-sĩ-hóa của giai đọan bắt đầu. Tôi thấy anh ta đứng bên cạnh chỗ bán sách từ lâu, anh ta khơng biết tôi cũng là chủ đứng vịn ngoài. Và anh ta chỉ chú ý đến vợ tôi mà thôi.
  Thừa cơ vợ tôi bán được một mớ sách lớn bận gói hàng và nhận tiền, nên anh Prévert cầm quyển Spectacles của Jacques Prévert rồi lủi vào đám đông. Từ đó tôi gọi anh ta là nhà- nghệ- sĩ- hóa -Jacques Prévert.

***

  Tôi đã có ý định bắt anh, khi nhìn thấy mái tóc bù xù kia cộng với vẻ đam mê sách lại không có tiền, khiến tôi thôi. Tôi cũng không cho vợ tôi biết điều này. Phản ứng của tôi, mỉm nụ cười nhỏ, nhìn anh ta đi xa cho đến lúc băng qua đường.

***

  Và hôm nay tôi lại bắt gặp anh trong quán cơm Ba Tàu này.
  Một điều ước vọng duy nhất là, sau này, anh ta sẽ không vấp phải số phận hẩm hiu như tôi. Anh ta trải qua kiếp sống nhục hờn, căm điếng cuộc sống, dồn nén đau thương, cái tát nẩy lửa của đời trao tặng, nhiều lần mạo hiểm mua chính bằng xương máu sẽ được viết ra thành tác phẩm để đời, không sao chép tầm thường như tôi.
  Và tôi hy vọng chén cơm chúc phước kia sẽ đơm tác phẩm lớn. Rồi một ngày nào đó, tôi hy vọng được đọc tác phẩm nhà- nghệ-sĩ-hóa Prévert ấy!

***

  Tôi chắc giờ này vợ tôi đã về nhà. Câu chuyện sẽ kể cho nàng nghe: không là bát cơm chúc phước nọ, cũng không là trang dĩ vãng đời tôi. Chỉ một lời hứa vào ban tối: kể chuyện có người ở một thời xa xưa bỏ trăm đồng tiền vàng mua bộ xương ngựa chỉ đáng vài xèng, lại trả cao giá một bộ xương ngựa được gọi là quí hiếm- chỉ mang ý nghĩa khích lệ kẻ mạo hiểm trên đèo cao- nơi hẻo lánh cốt tìm cho được giống ngựa hay làm cho cuộc đời này được tận hưởng viên mãn thú siêu quần!
  Tôi bắt đầu kể cho vợ tôi nghe như thế..

- Plisnier (Charles) 1896- 1952, nhà văn Bỉ viết bằng Pháp văn. Tác giả Faux Passport (1951), Mères vv..
- Complexe cornévienne: ý nói nhân vật không tham gia cách mạng lại chết vì cách mạng, có mặc cảm tự ti cho phải như vậy mới hợp lý.

ĐÓN ĐỌC BẢN ANH NGỮ :THE SECRET LIFE OF A BOOKMAN
trong KHU RÁC NGOẠI THÀNH
Tập truyện ngắn của THẾ PHONG
do ĐÀM XUÂN CẬN dịch sang Anh Ngữ :
The Rubbish Tip Outtside The City And Other Stories
Nhà Xuất Bản Thanh Niên - SàiGòn 2006


samedi 25 juillet 2020

VŨ ANH KHANH VÀ HAI THẾ GIỚI MÂU THUẪN biên luận NGUYỄN VĂN SÂM






VŨ ANH KHANH

VÀ HAI THẾ GIỚI MÂU THUẪN




I.- KHÁI QUÁT

Nói đến văn nghệ Miền Nam thế hệ 45-50, người ta nghĩ ngay đến cặp Lý Văn Sâm -Vũ Anh Khanh, cũng như nói đến nhà văn thế hệ 32 người ta nghĩ ngay đến Khái Hưng và Nhất Linh. Nhưng trên văn đàn ở một giai đoạn, tôi nghĩ không thể có hai người ở tuyệt đỉnh, bởi vậy giữa Lý Vũ ta phải chọn người trội, cũng như giữa Khái Hưng và Nhất Linh ta phải chọn người bá chủ văn đàn của thế hệ 32. Ở đây, Miền Nam, giai đoạn tranh đấu, ta phải nhận rằng Vũ Anh Khanh vượt Lý Văn Sâm nhiều. Nếu có thể xếp các nhà văn theo thứ bậc, tùy theo kết quả những tác phẩm của họ ta phải xếp Vũ Anh Khanh rồi mới tới Lý Văn Sâm, Hồ Hữu Tường, Phi Vân, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà, Sơn Khanh…Sở dĩ chúng tôi xếp Vũ trước Lý vì nhiều lý do, trước nhất tác phẩm của Vũ nhiều và hầu hết là quan trọng, ở Lý có nhiều quyển kém và có sự hiện diện của những tác phẩm viết vội vàng, viết ra cho những người trẻ lớp dưới.

Phần khác thơ Vũ Anh Khanh cũng góp phần để gây ảnh hưởng cho Vũ. Ta có thể cãi rằng Lý Văn Sâm có viết kịch. Vũ thì không nhưng phải nhận rằng ngày nay người ta biết Vũ thi sĩ chứ rất ít người biết Lý kịch gia. Về phương diện gây ảnh hưởng trong quần chúng lúc ấy Vũ Anh Khanh có Nửa Bồ Xương Khô và những nhân vật chiến sĩ thánh thiện, đáng mến có ý tưởng và hành động đáng yêu, Lý Văn Sâm không được lợi điểm nầy, nhân vật của ông cũng khá nhưng mơ hồ, nghèo khó, chìm nặng trong suy tư mà phai lợt ở hành động - điều nầy cần yếu cho lúc đó . Sự kiện nầy có thể giải thích được bởi đường lối sáng tác của một người thiên về quốc gia còn một người thiên về xã hội. Tuy nhiên dù sao ngày nay người được nhắc nhiều là Vũ Anh Khanh chớ không là Lý Văn Sâm.

Đọc qua số tác phẩm của Vũ Anh Khanh ta thấy ngay ông là ngòi bút có chân tài, văn ông nhẹ nhàng, bình dị nhưng gợi cảm, thấm thía khiến người đọc không chán khó quên. Nếu thường những văn sĩ ở tác phẩm đầu tay có sự non kém về trí cũng như về kỹ thuật trường hợp Nhất Linh với Nho Phong và Người Quay Tơ thì trái lại định luật nầy có sự thừa trừ ở Vũ. Tác phẩm đầu tay của ông, căn cứ trên năm ghi dưới cuốn sách (Cây Ná Trắc (1948) - vẫn không sút kém với tác phẩm sau là bao. Nói như vậy không có nghĩa là khiếm khuyết sự tiến bộ mà chỉ có nghĩa tác giả có chân tài, bởi vì những tác phẩm sau cũng như ở tác phẩm trước là những công trình có tiếng, có bản sắc, kỹ thuật cao, thu nhiều cảm tình của độc giả trí thức cũng như bình dân.

Văn ông mang màu sắc Nam Việt nhẹ nhàng ở những danh từ địa phương , đơn giản ở cách kết cấu mang nhiều tính chất Đồng Nai, Hậu Giang…

Tính tình nhân vật của ông cũng vậy nhiều khi mang cái nóng tính nhất thời nhưng họ biết suy nghĩ, biết phục thiện nếu được nghe lời nói phải, họ ít khi suy tính lợi lộc mà thường hành động theo cảm tình theo ý hướng thiện, họ có một cách tiên thiên.

Nhìn tổng quan về tư tưởng của Vũ Anh Khanh ta thấy các đề tài của ông không ra ngoài mục đích chính lập trường người dân cổ võ ủng hộ cách mạng chống thống trị, xâm lược. Từ đó sinh ra hai ý:

- Nói về tác phong những người kháng chiến là những người đã ý thức được bổn phận mình để hy sinh mình cho vinh quang dân tộc:

- Trình bày bộ mặt trái của đô thành với những ung nhọt ghẻ lở, bỉ ổi xấu xa, vì chứa đựng những người không có ý thức, không chú ý đến sự nguy vong của tổ quốc.

Để diễn tả ý trên ông đề cao kháng chiến lý tưởng hoá người đi chống giặc, họ thường hành động đẹp đẽ, đáng yêu không vụ lợi, hy sinh, bình tĩnh, biết bỏ những lợi lộc cũng như những ràng buộc cỏn con hiện tại để theo chánh nghĩa, họ biết tổ quốc nặng và ái tình nhẹ, đặc biệt người con gái ở đây, chung thuỷ, thùy mỵ, có tình yêu bao la và hướng về những người khán chiến.

Để thành công hơn, ở ý sau ông mạt xát kẻ thờ ơ lúc tổ quốc nguy vong, hay chạy theo phú quý vinh hoa, ông vẻ và tô đậm thêm những bỉ ổi do chính quyền thống trị đề xướng trong đô thành như cờ bạc, đỉ điếm để ru lòng, làm nhục chí khí người dân, nếu cần ông nói một vài tính xấu của người ở lại như thục kết, theo đào, có tư tưởng an nhàn, tự mãn…

Đành rằng ông định hướng ý mình là mạt sát và đề cao hai bộ mặt để cùng đi đến đối tượng: Chống thực dân, xâm lược, nhưng nếu khắt khe ta phải nhìn nhận là ông quá chủ quan; ở chỗ luôn luôn mô tả người kháng chiến luôn luôn cao đẹp, thánh thiện, người ở lại càng bỉ ổi, ty tiện, hời hợt trong tư tưởng. Có lẽ ông vẽ theo phương pháp hoạt hoạ, ông trình bày để đi đến mục đích. Nhưng đó là việc riêng không phải là công việc tìm hiểu tư tưởng một tác giả. Nhìn riêng ở mỗi chuyện đề tài của Vũ thoát, cảm động thực sự người đọc, đánh mạnh vào tâm trí tư tưởng người xem và do đó có ảnh hưởng nhiều với quần chúng lúc ấy.

Vì Vũ là nhà văn lớn, nên chúng tôi khảo sát đặc biệt hơn; trình bày sự phân cách giữa hai hạng người, vị ngã, vị quốc gia, dưới mắt họ Vũ, rồi mới nhìn tổng quan từng tác phẩm của ông.

HAI THẾ GIỚI MÂU THUẪN DƯỚI MẮT HỌ VŨ

A) Bộ Mặt Của Thành Phố Vô Ý Thức

Thành phố là nơi ồn ào đô hội, nơi tập trung của những thành phần ưu đãi của xã hội, họ sống dễ dàng vì nơi đây đồng tiền dễ kiếm, chiến tranh cũng như lùi bước trước ánh sáng kinh kỳ, người dân không có nỗi lo về đời sống khó khăn, nếu sinh kế bắt họ phải bon chen với đời thì nỗi nhọc nhằn nầy cũng không phải là bao so với nỗi khổ của người dân quê nơi thôn dã. Họ cũng không phải lo lằn đạn vô tình, có thể xuyên qua vách lá lúc nào, để làm cho cảnh gia đình ly tán. Cảnh chiến trường hoạ hoằn lắm mới xảy ra ở đây, cho nên họ dễ dàng quên để nghĩ rằng mình sống trong cảnh thanh bình.

Từ đó, con người buông trôi theo cuộc sống tranh đua nhau làm đẹp, làm sang, quên đi nhục vong quốc.

Một lần Vũ Anh Khanh đã cất tiếng kêu :

Hỡi cô con gái đô thành nội
Ai điểm trang mà em phấn son?

Dễ dãi đời sống, con người muốn tìm lúc căng thẳng thần kinh, họ đua nhau giỡn tiền, từ đó lòng tham nổi dậy, buông trôi theo việc cờ bạc, ăn thì xài xa hoa, thua thì bao nhiêu bẽ bàng sẽ đến.

Họ, không làm gì hơn là chen chúc nhau trong xòng tài xỉu, xa xa tiếng súng nổ, người dân ngã gục dưới họng súng của quân thù dường như là một cảnh xa lạ, không liên quan gì với họ.

Người ta chỉ chú ý mình, đến vận mệnh mình qua những con lúc lắc vô tri, qua những rủi may vô nghĩa; để cuối cùng một chút tự do còn xót lại của đời mình cũng mất luôn.

Thanh và Thảo vui vẻ cặp tay nhau hùng dũng vào phòng. Thanh đứng nghểnh mặt dòm quanh dòm quất bảo Thảo:

- Tao nhắc “nước” mầy đánh nhé.

Thảo gật gật đầu, thò tay vào túi nắn nắn xấp giấy bạc, tin tài bạn. Ngoài đường gió lạnh, thế mà vào trong nầy lại ấm, ấm từ cái trán ấm đi. Có lẽ vì đông người cũng có lẽ vì hơi tiền bạc lên cao trông như khói mỏng manh.

Lần đầu Thảo mới vào gian phòng nầy, chàng hơi lạ, lòng thành có vẻ ngớ ngẩn, Thảo để ý rồi Thảo lắng tai nghe. Những tiếng “hối” của mấy cô Sẩm cố quay miệng kéo thật dài hơi, những tiếng “tắc” ngập ngừng, phờ phĩnh rơi tõm vào lòng người. Thảo kiễng chân nhìn ba con hột lúc lắc.

- Lại “xỉu”.

Một con bạc đứng trước mặt Thảo nói ra theo hơi thở Thảo mỉm cười nghe hai công dân Tàu đang “tỉu” ngậu xị với nhau. Bên góc bàn đặt tiền, một công dân Tây, tay vuốt mồ hôi, cười gượng gạo. Bên tay trái Thảo, một công dân Ấn đang đướng trầm lặng quăng một mình. Còn công dân “An nam” thì đông lắm, đang chửi thề và hục hặc.

. . . . . . . . . . . . .

Thảo hối hận muốn khóc. Chàng dựa lưng vào vách khám, mắt lờ mờ nhìn tia nắng len qua hai cánh tay cửa tò vò.

Trong một giây, Thảo nhớ lại……..

…….. Thảo gặp Thanh, người bạn cũ chuyên sống về tài bài bạc. Thảo sa ngã theo Thanh, Thảo cờ bạc, rượu chè.

Thảo đã thua tiền nhà, Thảo lại thua tiền kết của hãng giao đi mua hàng. Thảo bị bắt tống giam và chờ ngày ra toà.

Thảo thở dài.

(Sông Máu Saigon ơi – trang 28-29-30)

Khi thua, người con trai làm bậy, thụt két, trộm cắp, cướp giựt, rồi vào tù. Đó là nỗi khổ vật chất mà họ phải gánh chịu vì trót mê say cuộc đỏ đen. Người con gái gặp cảnh nầy khổ sở hơn vì họ có thể nhơ nhớp cuộc đời vì túng phải làm tiền: đem thân mình đổi như tờ giấy nhèo nhò, vô nghĩa lý, để rồi chuốc sự rẻ khinh của ngay cả người cung cấp cho mình những tờ giấy ấy.

Ông khách ẵm Son lên lòng, khẽ nựng rằng:

- Em có chồng chưa?

Ngập ngừng, Son trả lời:

- Có rồi.

- Sao em làm nghề nầy?

- Vì em thua nhiều quá!

Ông khách cười:

- Hỏi các cô thì cô nào cũng vậy. Thua bạc, ai bảo đi đánh?

(Đầm Ô Rô - trang 41)

Nhưng không phải một người, hai người làm việc nầy, họ là căn bệnh của thời đại, căn bệnh của những người vô trách nhiệm, không ý thức đang chen chúc trong đô thành dưới mắt họ Vũ. Người ta lăn xả vào những cuộc vui có hại như những con thiêu thân lăn xả vào ánh đèn…

… Nào có phải gì mình Son đâu? Saigon bây giờ cờ bạc thạnh thành, thì lẽ tất nhiên theo luật tuần hoàn trai sinh ra trộm cắp, gái sinh ra điếm đàng.

Hàng trăm “hộp đêm” lén lút mở cửa và cứ mỗi chiều có năm, mười cô gái còn trẻ thua bạc, ngẩn ngơ neo thuyền đậu lại một bến Tầm Dương.

Từ đấy, chờ giờ chồng đi làm, Son mặc áo hoa thêu gọi xe đi về phố X…tìm đường vào Ma Thiên Lãnh để “bắt mồi” kiếm tiền.

(Đầm Ô Rô – Ma Thiên Lãnh, trang 43)

Đó là những lời chê trách của Vũ Anh Khanh với những người đã buông trôi đời mình vào vô nghĩa, lời chê trách còn khắt khe hơn khi ông nhìn đến những người dửng dưng trước cuộc tranh đấu của dân tộc. Họ chỉ mải mê chạy theo đồng tiền, chạy theo cách làm cho mình giàu hơn, khá hơn. Họ không biết rằng giữa lúc muôn người xả thân cho quốc gia, đem máu xương của mình chống chọi với kẻ thù, mọi việc mưu tìm lợi lộc cho chính mình là việc bần tiện khả ố, vì quốc gia là của chung mọi người, quốc gia mất thì một vài cá nhân giàu có cũng không ích lợi gì và trước sau gì họ cũng bị áp bức, giết chóc. Đó là chưa kể họ đã không làm tròn bổn phận với quốc gia, chưa xứng đáng với sự hy sinh của những người đã ý thức…

Người chung quanh sẽ khinh bỉ họ, chán ghét, xa lánh, kể cả người đầu gối tay ấp với mình, có một chút nghĩ suy…Ba năm binh lửa, chàng ra đi, Thơ ở lại lấy chồng. Chồng Thơ là gã ngu phu, thường trọng tiền tài hơn danh dự, thường xuyên quên chuyện lớn mà là lo việc cá nhân. Chồng Thơ xấu, Thơ cũng phải mang tiếng xấu lây.

… Những chuyện của chồng làm, Thơ không để ý đến. Thơ chỉ biết rằng chồng Thơ thường đi nhiều, có đêm suốt sáng, thường nghĩ ngợi nhiều có vẻ lo lắng. Thơ cho rằng chồng hay đi đêm với gái, nghĩ nhiều chắc là tìm cách làm tiền. Trong cơn quốc biến biết bao nhiêu người đã đành lòng đứng ra ngoài lề mà chạy theo miếng đỉnh chung, quên danh dự làm người, quên bao dòng máu đã chảy vì ai!

(Đầm Ô-Rô , Miếng Đỉnh Chung – trang 9)

Đứng trước sự xuống dốc của những người nầy Vũ Anh Khanh trước khi đối chiếu với những người thức tỉnh, đã mô tả một hạng người tha thiết đến quê hương, cố công kêu gọi mời mọc, cảnh tỉnh những người đã bỏ rơi tâm hồn mình. Đó là những nghệ sĩ đã trở mình khỏi tháp ngà. Họ biết rằng một người dửng dưng thì lực lượng cách mạng thiệt đi một người, đất nước rất cần những bàn tay và sức mạnh của bất cứ ai, nên nghệ sĩ cố đem tiếng lòng ra giải bày để mong những đứa con lạc loài có dịp phản tỉnh để trở về.

Nhưng trước kim tiền, vật chất, sự dễ dàng, người nghệ sĩ nhiều phen thất bại, ứa nước mắt vì những kẽ hồi đầu quá ít, người ta còn mãi bận bịu vì những thứ nhứt thời, bỏ mặc quê hương rách nát.

Ngày xưa lâu lắm, vào thời Trịnh nguyễn tranh hùng, giành nhau chia xẻ giang sơn Việt Nam ra làm hai mảnh có một chàng văn sĩ đau lòng vì cảnh tương tàn, tương sát, chàng mới ngồi nặn óc viết ra một truyện để cảnh tỉnh lòng người. Chuyện chàng viết rất công phu, nhưng người ngoài thiên hạ đọc không hiểu, không ai thèm xem. Buồn lòng vì tài mình chưa đủ, chàng mới đi chu du để tìm thầy…

(Sông Máu - Cầu chìm , trang 75)

Đó là văn sĩ, với ngòi bút rướm máu của mình, với những câu chuyện xa xa gần gần. Người ta không có thì giờ để xem đã đành, nhưng còn tai người ta cũng bịt lại, vì nhạc sĩ cũng cố đem những âm thanh oán hờn, tủi nhục, tiếng sắt, tiếng thép, gợi lên cảnh nhục nhã đau thương cho họ nghe, nhưng rồi kẻ thông cảm lại quá ít, trần ai mấy ngưới tri kỷ. Người nghệ sĩ ôm mối hận lòng của mình xuống mộ, để quê hương đau khổ lại cho những kẻ không nghĩ gì xa hơn ăn mặc, vui chơi.

Ngày xưa có một nhạc sĩ Chàm tên Chế Liễu – chàng có một ngón đàn vô cùng tuyệt diệu và một tấm lòng yêu mến quê hương thiết tha. Biết trước sẽ có ngày dân tộc chàng bị tiêu diệt, nếu giống Chàm cứ mải sa ngã vào những cuộc rượu chè. Chàng mới đặt ra những bản nhạc thật hùng mạnh. Cứ mỗi đêm về khuya, chàng leo lên ngọn tháp cao nhất giữa kinh thành Đồ Bàn mà đàn mong rung cảm lòng dân. Nhưng buồn thay, chẳng một ai buồn hiểu!

… Chế Liễu được vua cho phép quỳ giữa sân chầu mà đàn để giúp vui cho bữa tiệc.

So giây kỹ lưỡng, chàng nghệ sĩ đất Chàm thu hết tài ba bấm chắc chắn từ cung. Tiếng đàn rung lên, khi mau, khi chậm, khi nhẹ nhàng, khi hấp tấp, khi như van lơn, khi như nguyền rủa. Bao nhiêu nỗi thắc mắc đau khổ trong lòng của Chế Liễu đều theo đường tơ mà tuôn ra những giọng ai oán lâm ly.

Ai nấy đều lắng nghe những tiếng đàn tha thiết kêu gọi kín đáo, vừa chua chát, vừa quyến rũ. Nhưng tiếng đàn chỉ có một người hiểu.

Công chúa Huyền Trân…

…Thời gian qua Chế Liễu chết và dân tộc Chàm bị tiêu diệt vì không hiểu nổi tiếng đàn kia…

(Sông Máu -(Cây đàn câm – trang 48-49-50)

Nhưng cũng may, có hạng người luôn luôn ngủ, ai kêu cũng không dậy, ai xô cũng không thức thì cũng có hạng người không ngủ, không cần ai gọi cũng đã tỉnh. Hạng người nầy là những người ý thức, hạng tạo thành tự do cho quê hương chúng ta.

B) Những Người Ý Thức:

Hạng người nầy, Vũ Anh Khanh, mô tả thật kỹ, với tấm lòng quý chuộng của mình. Người ý thức là trai, gái, già, trẻ, không cần, điều quan trọng là họ biết nghĩ suy, trong cơn quốc biến, không thể dửng dưng sống cho mình, vui thú cho bản thân, ai chết thây kệ. Nước còn hay mất không lo. Họ là những người tha thiết với quê hương mình, dám vứt bỏ tất cả để đi theo tiếng gọi của quê hương, bỏ sau lưng mình cuộc đời đang lên, tươi đẹp, bỏ tất cả tuổi hoa mộng đang hé tay chờ đọi để giúp đỡ phần nào những người chiến sĩ đã xả thân cho quê hương.

Một chiều mây tang tóc. Mây xám ngoẹt ở lưng chừng trời: Khói loạn ly bắt đầu sấy đen những chiếc lá úa rụng xuống khắp các ngả đường.

Ngày ấy Phấn ra đi.

Nàng đã trút bỏ bộ áo nữ sinh trường “Áo tím” thay vào một bộ vải ta đen to sợi dệt. Phấn theo đoàn quân sống lăn lóc những ngày nhiều mưa gió. Từ một nữ học sinh nhảy qua đời nữ cứu thương Phấn thấy mình thay đổi rất nhiều. Nàng đã tìm lẽ sống trong một cuộc đổi thay, một đời sống mới. Ngày ngày, nàng được băng bó những vết thương cho các chiến sĩ tiền tuyến. Phấn hay để lòng xót xa cho họ và tìm được chân lý của sự hy sinh: lòng thương người và tình yêu nước.

Một năm qua, hai năm qua, cuộc sống chiến đấu dằng dai càng ngày càng dữ dội. Những giòng máu vô tội cứ chảy và ba năm qua phố phường lại rộn rịp, tưng bừng như xưa. (Đầm Ô Rô – Tóc Thề, trang 55-56)

Khi chí đã quyết, lòng đã trui, con người ý thức không còn coi việc gì quan trọng hơn là sứ mệnh nữa. Họ cho rằng chết vinh hơn sống nhục, vấn đề là đất nước thoát khỏi cảnh đô hộ xiềng xích, cá nhân là vô nghĩa, người nầy chết đi sẽ có trăm ngàn người khác đứng lên thay thế họ. Họ sẵn sàng chấp nhận cái chết như một vinh dự, một bổn phận thiêng liêng. Thắc mắc của họ không phải là sự có mặt của mình trên cõi đời nầy, mà là khúc khải hoàn của dân tộc.

Lìn lấy hai viên đạn để giữa lòng bàn tay, đưa lên miệng, hôn đưa cho Lương hôn, nàng bảo:

- Trước khi từ giả cõi đời, em xin cầu nguyện cho tổ quốc Việt Nam dân tộc Việt Nam mau ca khúc khải hoàn.

(Bạc Xiu Lìn trang 131)

Đó là một hình ảnh cảm động đến rơi lệ, người chiến sĩ biết tình cảm của mình không thể khác hơn, thà chết chớ không hàng địch.

Hình ảnh sau đây còn đáng nể hơn nhiều: người con gái, sau khi bị thương, biết mình sắp chết không ân hận, không buồn bã mà còn tìm trong đó một ý nghĩa, ý nghĩa họ đã biết trước khi lao thân vào cuộc đời tranh đấu:

Tôi không còn được bao ngày nữa! Thầy thuốc đành bó tay trước vết thương quá nặng? Thôi thế cũng hay, ít ra tôi cũng đã ghi lại trên đời một cái gì không để tên cho vong hồn tổ tiên. Còn việc sống hay chết đối với một chiến sĩ nào có nghĩa gì.

(Đầm Ô Rô - Miếng Đỉnh Chung – trang 11)

Đó là hành động và tư tưởng của người anh hùng, kẻ đã quyết chí hy sinh, không phải lúc ấy chỉ có một người, hai người, mà là một con số rất lớn, gần như hầu hết những người tay lấm chân bùn, những người rất ít được ân sủng của xã hội là được sống trong cảnh yên lành, dễ dàng cuộc sống, tiện nghi của tiến bộ, họ là những dân quê, hiền lành, chất phác, nhưng sức sống dồi dào mãnh liệt, ý chí cương quyết vô bờ, gặp cảnh ngửa nghiêng, họ không suy nghĩ gì hơn là phải làm thế nào để ngăn chận bước đường tiến của quân giặc, không cho bọn thực dân lộng hành.

Đây không phải là sự bồng bột nhất thời, một sức vùng lên thiếu tổ chức, mà là một tình cảm tự nhiên, hợp lý, quyết giữ nước giữ làng, sức mạnh của họ được hợp nhất, tổ chức có hệ thống, chặt chẽ, hữu hiệu, đúng phương pháp.

Nhà nào cũng vậy, vàng bạc, của cải có thứ gì lo chôn, quần áo, giường mền, lo sắp đặt sẵn; chờ hễ có lệnh là tản cư về Đồng Bái.

Dân trai tráng phải chia phiên nhau đi tuần cả đêm lẫn ngày. Con đường xe hơi chạy về thành thị bị đào gần khoảng xóm cháy, cách xa làng chừng mười cây số. Gần mấy trăm cây dừa tư bị hy sinh, đốn ngã xuống rào đường. Những phương pháp ngăn đường tiến của quân địch đều được chu đáo thi hành.

(Cây Ná Trắc – trang 9)

Họ cũng biết lực lượng của mình, sự tương quan lực lượng giữa hai bên là một điều mỉa mai đối với họ, nhưng điều đó chỉ được đặt ra để cố gắng hơn, can đảm hơn, chớ không phải được đặt ra để chán nản, tuyệt vọng, buông trôi, giao đất nước mình, quê hương mình cho kẻ mạnh. Họ cố hết sức, lợi dụng tất cả phương tiện để đi đến thành công chút nào hay chút nấy, không hoảng hốt, sợ sệt, nao núng. Khí giới không quan trọng, quan trọng là lòng người đoàn kết, can đảm, căm thù, cố gắng hy sinh và chấp nhận mất tất cả để ngăn cản bước tiến của quân thù. Một nao núng của mình là một sự khích lệ bước tiến sự tàn ác của bọn người cướp nước. Sự can đảm hy sinh của mình sẽ là trở lực cho họ, khiến họ nao lòng, nản chí và dễ đặt lại vấn đề xâm lược. Bởi vậy, toàn thể dân làng Khánh Thiện đã một lòng chống giặc, bất chấp tất cả.

Nghĩ đến khí giới, Tảo ngậm ngùi.

Ngăn giặc bằng gì? Tấm lòng yêu nước thiết tha.

Chống giặc bằng gì ư? Cả làng Khánh Thiện chỉ vỏn vẹn có một thanh gươm Nhật Bản của một gánh hát cải lương từ Nam Bộ tản cư ra tặng lại hiện Bão đeo làm gươm lệnh, mươi trái lựu đạn và năm cây súng sáu ru lô của trên ủy ban quân sự tỉnh cấp cho, còn là tay không mình trần.

Gần ba ngàn tráng đinh nếu đầy đủ súng ống cũng là một lực lượng đáng kể. Thiếu khí giới tối tân họ đành tự mình kiếm vật phòng thân vậy. Thôi thì rựa củi đi rừng, mác tre, dao phay bằm cá, tất cả những thứ đồ sắt nào đâm được, chém được đều đem ra dùng. Họ tự an ủi lẫn nhau:

- Một chiếc guốc vông nhẹ còn có thể giết người được nữa là! Miễn cần có một bầu máu nóng gan lì mà chịu đựng, một ý chí mãnh liệt hy sinh.

Những cô gái nhu mì đã bắt đầu can đảm cắt ngay mớ tóc đuôi gà, áo may ngắn thắt tay, một mảnh vải đính chữ thập hồng bịt ở đầu, một hộp đựng đồ cứu thương đeo ngang lưng, một túi dét quần áo mang cạnh sườn và luôn luôn đi đó đi đây lo công việc từ thiện. Phấn son quẳng vào bếp, giày dép bơ móc dưới gầm bàn, các cô thường đi chân không. (Cây Ná Trắc – 13-14)

Như một tác giả có cái nhìn thấu đáo, Vũ Anh Khanh cho rằng người hy sinh thân thế mình cho dân tộc, không phải là người mất đi tất cả tình cảm khác, chỉ có lòng yêu nước mà thôi. Họ không phải là những cái máy đánh giặc, không phải những kẻ cuồng tín, mặc dầu cuồng tín cho tình tự quê hương, họ vẫn còn là con người với đầy đủ tình cảm, nhưng lòng yêu nước của họ mạnh mẽ, đàn áp, nổi bật lên trên tất cả tình cảm khác mà thôi. Họ dành hầu hết thì giờ cho việc chánh, gần như quên hết mọi sự, nhưng khi rảnh rỗi, lúc thảnh thơi một mình họ cũng biết nhớ đến người mẹ già, kẻ đã tạo mình hình vóc ngày nay…

- Lâu lắm mình mới được soi gương kỹ càng.

Nói xong câu nầy. Tiềm chợt nhớ chàng còn một bà mẹ già ở nhà quê mà lâu lắm chàng chưa có dịp về thăm. Lâu lắm đi theo tiếng gọi của lòng, Tiềm mải mê theo công việc, chàng không còn thì giờ để mà nhớ đến mẹ nữa! Tiềm ngậm ngùi, thở ra thương cho mẹ già chiếc bóng, chiều chiều lê gậy trúc ra cửa ngóng tin con. (Vũ Anh Khanh – Cây Ná Trắc 65)

Con người phải đầy đủ nhân tính của nó, không thể chỉ biết có một mục tiêu duy nhất để mà bỏ qua tất cả. Vũ Anh Khanh là tác giả thành thật và hơn người ở chỗ đó. Không quá khích không vướng mắc vào sự tuyên truyền, chỉ có ích lợi cho giai đoạn và không xứng đáng là một văn nhân.

*

Nhiều khi ngòi bút của Vũ Anh Khanh còn làm cảm động lòng người hơn, ông mô tả cảm nghĩ, cử chỉ của những người mà ta tưởng rằng họ đặt quyền lợi của gia đình, tình cảm thân thuộc lên trên, nhưng không, họ cũng đi theo kịp quần chúng, cũng tha thiết với tiếng gọi của quê hương. Thật vậy, ai yêu mến gia tài, tiền bạc của mình bằng mấy cụ già, vì họ đã bỏ ra gần hết cuộc đời mình để gầy dựng nên nó, gia tài là hình ảnh thời gian đã qua của họ, là mồ hôi nước mắt của họ.

Tình thân mến nào bằng tình cha con, vì người con là lẽ sống của mình, là nơi nương tựa, là hình ảnh thân yêu của mình, nhưng trước lúc đất nước ngửa nghiêng, người già cả cũng vậy: dẹp bỏ tình cảm, lòng tha thiết của mình để vì quốc gia.

Mình không làm gì cả, anh em họ có công ra tiền tuyến, sống chết không biết giờ nào, mình có bổn phận phải nuôi họ, khuyến khích họ.

Bảo dạ một tiếng khẽ. Anh chủ tịch đỡ lời:

- Nhưng lâu nay cụ đã giúp cho nhiều quá!

- Mấy anh cứ nói nhảm! Trời cho tôi có tiền thì tôi giúp. Vả lại, giữ tiền, giữ gạo lại làm gì? Giặc đến rồi thì cũng mất và khi chết tôi cũng chẳng đem theo xuống lỗ được.

Nói xong cụ cười dòn.

- Thưa cụ, cụ có tin gì về anh An?

- Không, hình như nó đang ở Phong điền, Phong thủy gì đó…

- Dạ.

- Thời bình nó là con tôi, thời loạn nó là con của nước. Tôi không có quyền kềm giữ nó nữa.

(Cây Ná Trắc – trang 33)\

Ta thấy ngay Vũ Anh Khanh phân chia hai hạng người rõ rệt, một hạng chỉ biết có mình, sống cho chính mình, ai chết mặc ai, và một hạng sống cho lý tưởng, hiến đời mình cho quê hương. Và trong sự mô tả của ông, ta thấy hạng trên thường là người ở thành thị, nơi có đủ điều kiện để phè phỡn, hạng dưới là người dân quê, nơi dễ bừng lên sức căm hờn, nhưng không phải mục đích của ông là tả sự khác biệt giữa hai thế giới, thành thị, thôn quê, không phải ông muốn cho ta thấy đô thị xuống dốc, bưng biền tiến bộ như Thế Phong đã nói, mà ông muốn cho ta thấy sự mâu thuẫn khác biệt giữa hai thế giới, thế giới người người ý thức và thế giới kẻ u mê.

Thật vậy, đoạn văn sau đây của Vũ cho ta thấy rõ điều đó:

- Người Hànội bây giờ có vẻ ăn chơi nhiều quá nhỉ?

- Chỉ một số ít thôi; đấy là hạng người thiếu huấn luyện, hám danh lợi, tôn thờ chủ nghĩa vật chất! Còn phần đông đang âm thầm tranh đấu, nhiều nhất là sinh viên mấy trường đại học.

(Vũ Anh Khanh - Bạt Xiu Lìn ,trang 65)

Đấy là ý chính của Vũ, để diễn tả ý chính nầy, ông mượn rất nhiều khung cảnh người đời nay, đời xưa, thế giới người chết, thế giới thần tiên, nhiều khi đề tài của ông có tính cách ví von tượng trưng, gợi ý, nhưng chủ đích vẫn không ra ngoài hai bộ mặt ở trên. Dĩ nhiên, nếu kỹ lưỡng hơn ta cũng sẽ thấy một vài ý phụ khá độc đáo trong các sáng tác của ông…

Sau đây chúng tôi xin đưa ra những mầu sắc cá biệt ở mỗi tập truyện của Vũ Anh Khanh. Sự phân tích nầy tuy vậy không rời rạc vì nhận xét từ quyển cho ta biết tính chất ở mỗi phần của tư tưởng, những phần nầy góp lại thành toàn thể văn tài và đường hướng của họ Vũ.

II.- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM.

Tác phẩm của Vũ Anh Khanh rất phong phú, ta có thể kể:

Bên Kia Sông (truyện ngắn) Tân Việt Nam 1949

Sông Máu (truyện ngắn) Tiếng Chuông 1949

Đầm Ô Rô (truyện ngắn) Tiếng Chuông 1949

Cây Ná Trắc (Truyện dài) Tân Việt 1949

Ngũ Tử Tư (truyện ngắn) Tân Việt Nam 1949

Bạt Xiu Lìn (Truyện dài) Tiếng Chuông 1949

Nửa Bồ Xương Khô I và II (truyện dài) Tân Việt Nam 1949

Dường như Vũ còn nhiều cuốn nữa đã viết xong nhưng chưa xuất bản, hầu hết là những truyện dài: đó cũng là điều lổ lả cho chính tác giả và cho cả nền văn chương nước nhà.

Ở đây chúng tôi chỉ nói về văn chương của Vũ còn thơ nếu có dịp sẽ bàn sau 35

Bên Kia Sông Và Những Bước Chân Lên Đường Hùng Tráng

Ý chánh ở đây là hành động lên đường của tất cả những người bỗng nhiên thấy lòng mình bừng sáng và mình phải có một hàng động gì xứng đáng là một con dân trong một nước đang binh lửa (Tướng cướp Năm Đen một ngày thu nhìn khói tang thương, đốt cháy làng mạc, tàn phá quê hương mình bỗng bừng tỉnh, ý thức rằng không nên để cuộc đời mình trôi trong vô nghĩa nên mạnh dạn bẻ gươm thiêng, phá tan sào huyệt cũ đi về một hướng mới. (Bên Kia Sông)

Hướng mới đó là theo những chiến sĩ cách mạng.

- Nga, một người con gái mù, đã hy sinh cuộc đời mình để cảnh tỉnh người yêu, nàng đã thành công; người yêu của nàng sau lần cuối nghe bản nhạc của nàng đã quyết chí lên 35 Thơ của Vũ Anh Khanh rất khá, nhạc điệu, ý độc đáo, bài thơ Tha La nổi tiếng không thua Màu Tím Hoa Sim, tập thơ “Chiến Sĩ Hành” góp phần không nhỏ trong việc làm bừng lên nền văn chương Kháng Chiến 1945-1950. đường làm nhiệm vụ cao cả của người trai (Đèn Saigon).

Nhiệm vụ đó là cứu quốc.

- Tráng khách, một người tự nhận mình là dòng dõi những bậc anh hùng như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Phan Đình Phùng, lúc nào cũng quyết chí:

Một ngựa, một gươm hề, một cây cung Với lòng dũng cảm hề, với chí lớn Ta xông xáo hề trong đám mông lung

Mong mỏi được làm một cái gì, nên khi được lệnh thì vội vàng khăn gói lên vai, dấn mình vào sương gió, nhập thành công tác (tráng Khách).

- Liêu, một văn sĩ thấy quanh quẩn ở thành nội thiếu một mảnh đất tự do, tin tưởng mình sẽ thắng trở lực, đạp đổ được hết những chướng ngại… ra đi để tìm quê hương thật sự của mình vào một buổi chiều mưa. (Cười Mưa Tan)

- Tôn Nữ Lan Phương, một cô gái Huế, sau những ngày sống bình dị ở cố đô, thấy hoài bão của người chung quanh sao mà tầm thường quá nên đã ra đi. Trong khi thi hành nhiệm vụ, chuyện không may đã xảy ra. Khi biết đời mình không thể kéo dài được thì…Chị nhờ em thay chị về lựa lời an ủi giùm m ẹ chị, chắc người buồn lắm đấy! Chị không ân hận gì đâu. Em yên lòng (Tôn Nữ Lan Phương).

- Trâm, nghe cuộc đời nay đây mai đó của người khách viễn phương, nhớ đến nước nhà muốn trở vế giúp ích một phần nào cho quê hương (Người Khách Viễn Phương)

*

Những tình tiết ở đây rất gợi cảm, nhân vật hành động và đối xử cao cả, một cách đáng mến. Họ vừa có khí phách vừa giàu suy tư (Năm Đen, Tráng Khách, Người Khách Viễn Phương) hành động đĩnh đạt, dễ thu phục người chung quanh (Trúc, Quang. Liên, Minh) đời sống nội tâm phong phú (Tôn Nữ Lan Phương). Ở đây không có sự phân biệt gái trai, ở đây chỉ có những người giác ngộ, gái cũng như trai, thản nhiên bước vào cõi chết, hy sinh của báu độc nhất của đời mình là mạng sống để cảnh giác người yêu (Nga – Đèn Saigon). Ở đây cũng có sát phu, thất phụ, nhưng đó là thời gian trước cuộc đời họ, lúc sau họ đều đền đáp xứng đáng những lỗi lầm trước, hành động của họ còn ý nghĩa hơn người bình thường nhiều (Tướng cướp Năm Đen quay về chính nghĩa trong Bên Kia Sông, Cô Gái Phản Bội Tên Trà ăn năn nắm chặt ngọn dao bàn, nhắm mắt vung tay để tự xử mình trong Bát Canh Rau Má…)

Tóm lại, nhân vật trong Bên Kia Sông thuộc những người đã thức tỉnh cảm thấy cuộc đời chỉ có nghĩa khi ta hành động vì dân, vì nước…Vì quyển Bên Kia Sông, ở trong hệ thống tư tưởng của Vũ Anh Khanh nên những băn khoăn của người sắp sửa lên đường vì quê hương nhìn lại những kẻ dửng dưng trước vận nước (trang 31-32), chỉ lo mua vui (trang 69), chạy theo hư vinh (trang 77)

Sông Máu Và Sự Bi Đát Làm Sôi Nổi Ý Chí Cách Mạng

Cái ghi nhận đầu tiên của người đọc Sông Máu là ảnh hưởng của Nguyễn Tuân lên Vũ Anh Khanh; một Nguyễn Tuân Tài hoa với vài hình ảnh xa mờ của quá khứ đau thương qua “Vang Bóng Một Thời”.

Mở đầu tập “Sông Máu” là cái chết của chàng thanh niên thường đi về bến Ké, một thanh niên cách mạng bí mật. Chàng chịu tội tử hình ở bãi pháp trường tạm gần bờ sông và đi về bên kia thế giới dưới sự tiễn đưa của một quan Tuần Vũ và quan Công Sứ, nhờ sự đưa đường của một đao phủ múa thanh quất bén. Ta tự hỏi cần gì có sự hiện diện của quan Tuần Vũ và người chết cũng chẳng cần quan Công Sứ đón đưa. Cái chết của một thanh niên thời ấy đâu phải là một ngày lễ quan trọng?

Sự hiện diện của họ có được bởi vì ngày xưa Nguyễn Tuân đã viết như vậy để nhè nhẹ nói lên lòng căm hờn và ngày nay Vũ lập lại vì thích hợp lòng mình, thích hợp với sự diễn tả khách quan của mình.

Ở “Tiếng Địch Sông Ô” thì ảnh hưởng của Nguyễn Tuân rõ ràng hơn tý nữa. Cái tật ghiền nghe, ở bữa ăn, âm vang của thanh quất chém vào cổ người của tên phản dân tộc Nguyễn Thân, khiến thầy đề lại già phải chém chuối để thế bởi vì trong khám tỉnh đã vắng bóng người, mà bọn cướp đường cũng hết dám ngoay ngoe quấy nhiễu, là một biến thể từ việc sửa soạn chém vào chuối để ngày mai biểu diễn chém treo ngành…

Qua “Cây Đàn Câm” tác giả mới chịu đề tặng Nguyễn Tuân, tác giả Chùa Đàn, vì Vũ nhận mình gợi ý từ đây.

Ta không lạ, bởi vì nhắc lại vài sự kiện xưa để làm sống lại nỗi khổ đau của người dân dưới ách bạo tàn, ngoại thuộc, nhắc lại vài hình tượng nhục lụy xưa thì tác giả có thể gợi ý ở các chuyện xưa đúng ý mình. Bởi vậy ta không ngạc nhiên khi thấy “Bên Kia Sông” cử chỉ của Năm Đen có vài nét giống tướng cướp Cai Xanh trong truyện của Nguyễn Tuân. Dù sao áp dụng sự gợi ý, mô tả vài hình ảnh na ná nhau, dăm câu văn tuôn ra theo tiềm thức từ một tác giả mình phục tài, cũng không làm cho mình trở thành người đạo văn, không có chân tài. Điều quan trọng là lấy ý có thoát không, ngọn bút có vượt được người đi trước không, truyện mình xây dựng có thành công không. Ở Vũ tôi thấy ông gần như đầy đủ những điều kiện nầy bởi vậy tôi cho rằng Vũ Anh Khanh chịu ảnh hưởng một phần rất nhỏ nào đó của Nguyễn Tuân trong khi vẫn duy trì được ưu thế của mình đối với những nhà văn trên văn đàn Nam Bộ vào những năm khói lửa…

Đó là một vấn đề gợi ra từ quyển Sông Máu còn về tư tưởng, ở đây, tôi thấy họ Vũ thường trình bày những kết thúc buồn thảm, bi quan (ở Sông Máu là cái chết của người khách thường xuôi thuyền vào bến Ké để rồi một đêm trở về bằng một bóng lờ mờ, mặc áo chàm xanh, một tay xách đầu của mình, một tay ngoắc người yêu. Ở “Trên Thái Bình Dương” là việc bị thương mê man của Dung, ở “Saigon ơi” là việc bị bắt giam cầm của người vợ còn giữ mãi niềm tin, ở “Tiếng Địch Sông Ô” là cái chết đớn đau của một cặp trai tài gái sắc vì giai cấp vì cái nhục lụy của người dân, ở “Cây Đàn Câm” là tiếng lòng rướm máu của Chế Cầu, gảy lên nhưng chẳng thức tỉnh được lòng người đã xuống dốc quá xa; “Hai Lá Thư Không Gửi” là sự cách biệt nhau để đến lúc chết không hiểu nhau của đôi nhân tình tha thiết yêu nhau; ở “Mai Phi” tả cảnh khổ vì vận nước truyền từ đời cha đến đời con của dòng họ biết yêu trọng quê hương; ở “Cầu Chìm” là sự khổ sở phải nhúng tay vào để giải quyết giữ nhiệm vụ và tình yêu…) Nhưng đặc biệt nhờ tác giả thể hiện mình qua nhân vật chính nên mặc dù bi đát vì cảnh ngộ họ vẫn đón nhận được câu văn khích lệ hay những cái nhìn dưới khía cạnh danh dự, màu hồng. Do đó sự thất bại ở đây không là một chướng ngại cho những người muốn lên đường chiến đấu giành độc lập vinh quang cho tổ quốc, mà trái lại là một khích lệ, một đào sâu căm hờn với bọn thống trị; hôm nay nó là một vết tích ghi lại tội ác của bọn thực dân thuở trước trên đất nước ta.

Đầm Ô Rô Và Hai Thế Giới : Thức Tỉnh – Mê Muội.

Đầm Ô Rô là tập truyện ngắn tương đối mỏng nhưng giá trị của nó nhiều vì bối cảnh hình tượng ở đây hầu hết thực và gợi cảm. Thực vì chuyện xảy ra ở đô thành trong những người ở lại những năm chinh chiến. Gợi cảm vì người cách mạng ở đây thường gặp những bất lợi, thất bại và chết chóc. Bởi vì chết như người chiến sĩ cách mạng ở chuyện “Đầm Ô Rô” chưa hẳn khổ bằng Phán trong “Tóc Thề”. Nàng về với mục đích trao đi kỷ vật người yêu theo lời trối trăn cùng để khỏi thấy hằng ngày những di vật đau lòng. Nhưng không thể được. Người đáng lý nhận những di vật nầy phải ra một nơi muôn đời có sóng bủa vây gầm thét. Và nàng phải giữ lại cho đến lúc chết cái hình ảnh của người xưa. Bi đát, thất vọng là lúc tìm không ra người nhận để mình ôm mãi những vật tượng trưng cho tuổi trẻ mình, cho cái “lìa đời” của người yêu, cho cái tình cảm của người mình hoài vọng…

Một bi đát nữa gợi ra từ vấn đề do tác giả đặt ra. Một tướng Trịnh chịu “khổ nhục kế” để về đầu Nguyễn, Lộc Khuê Hầu Đào Duy Từ biết và khuyên chúa Nguyễn Phúc Sãi tha bởi vì “máu của hắn cũng là máu của người dân Việt”. Tác giả đã có lòng nhân đạo, đã có cái nhìn thấu đáo và hiến sinh. Nhưng thực tế người ta khó lòng nhận được giải pháp ấy, người ta phải ứa nước mắt giết kẻ thù mặc dù là cùng giống, mặc dù kính phục họ vô cùng. Đau khổ, sinh ra từ sự mâu thuẫn của tiếng gọi của lý trí và thực tế là vậy.

Như trên đã nói Vũ Anh Khanh ở “Đầm Ô Rô” cũng vậy, có viết về những người ở thành nhưng cái nhìn của tác giả phần nhiều thiên về đả kích, ông tả sự sống sa đoạ, xuống dốc, tầm thường của họ. Huyền ở “Hối Tắc” bị mấy tiếng “hối chỏ lây”, mà suýt nữa phải “theo một người nào đó, tắc lưỡi một cái, nhắm mắt lại dâng cái quí nhất đời mình cho kẻ có tiền để đổi lấy vài miếng giấy bàu nhàu… “ trong khi đã không biết bao lần vì mê đánh bạc nàng đã bị những cặp đùi láu cá cứ vẩn vơ cạ mãi vào đùi nàng”. Son ở “Ma Thiên Lãnh” không được may mắn như Huyền, nàng cũng ở trong trường hợp trên và đã phải “Tìm đường vào” Ma Thiên Lãnh để “bắt mối” kiếm tiền “để rồi dần dần trở thành một con đĩ, một con đĩ dối chồng và dối cả trai”. Những lần Son phản tỉnh, những lúc Son thấy cái cách biệt của mình và những “con đĩ thập thành” là những lúc Son đau khổ. Nhưng điều đó cũng chưa đáng nói, một ngày kia người thiếu phụ đáng thương kia – đã sa đoạ, nhơ đời vì một chế độ dung dưỡng cờ bạc, đĩ điếm của thời trước – đã gặp chồng mình ở “Ma Thiên Lãnh”. Sự đổ vỡ ai cũng đoán được, đã xảy ra…

Đó là cái nhìn của tác giả, cái nhìn của nhân vật do ông tạo ra cũng vậy. Lời nói của họ vẫn là khinh khi hay hoài nghi thiện chí. Trong “Miếng Đỉnh Chung” hành động của Hoàng bị vợ chàng cũng nhìn với cặp mắt hạ thấp giá trị. Không thiện cảm.

Bởi vậy ta thấy tác giả đã có một chủ kiến sẵn, ông không đào sâu hay đưa ra giải pháp, ông chỉ đứng ở cương vị nhà văn mà trình bày, ông gây những tơ lòng rướm máu, xót xa nhìn cảnh trái lòng nhưng ông không bước qua chỗ của người làm chánh trị, nhà xã hội học để đề nghị sửa đổi cải cách. Ông muốn mình thuần túy là nhà văn; đặt vấn đề để người khác giải quyết, là một chứng nhân ghi lại chớ không là nhà tiên tri tưởng tượng những hình ảnh xa vời trong tương lai.

Cây Ná Trắc Và Tình Người Trước Cảnh Dầu Sôi, Lửa Bỏng

Cây Ná Trắc là câu chuyện ghi lại một vài nếp sinh hoạt kháng chiến của người dân làng Khánh Thiện, ở miền duyên hải, khi bọn Nhật tiến đến đây, Những thanh niên, thiếu nữ yêu nước đã tổ chức cuộc canh phòng, báo động, nghênh chiến để mong cản trở phần nào sự phá hoại của địch, Bảo, Tảo, Đình là những công dân quan trọng của nhóm dân quân nầy.

Sau một thời gian giữ nhiệm vụ ở làng, một ngày kia không thể chịu được cảnh tàn phá của quân giặc, không chịu câu thúc bởi tình cảm vợ con yếu hèn, không thể ngơ trước cảnh vong quốc, Tảo lên đường gia nhập quân đội để giúp ích quốc gia hữu hiện hơn. Cùng đi với Tảo có Niềm người em nuôi người “Mọi”. Trong một trận giáp chiến Niềm bị đạn, trước khi chết Niềm tặng Tảo cây ná trắc yêu quí và cũng thổ lộ luôn lòng mình rằng đến nay vẫn còn yêu một người con gái không bao giờ yêu mình và đã đi lấy chồng”.

Ta thấy câu chuyện lấy đề tài kháng chiến, bối cảnh là những năm tao loạn trong miền đất loạn ly, nhưng tác giả ở đoạn cuối đã thêm vào một đoạn đầy tính chất lãng mạn. Điều nầy không phải tác giả bị ngòi bút hướng dẫn mà vì ông muốn nêu lên một tình cảm đẹp của người đồng bào Thượng khả ái - Niềm – anh ta đã hoà mình với cuộc sống khổ sở tang tóc của toàn dân Việt. Sống chung, cảm thông nhau, Niềm đã trở thành hẳn người Việt khi yêu cầu người “ở lại”:

Anh săn sóc giùm má ba em và khi nào thái bình anh có gặp Nhân, anh bảo rằng em vẫn cón nhớ nàng cho đến lúc chết, mặc dầu nàng đã có chồng”. (trang cuối)

Anh có cái lo lắng của người dân quê yêu mến mả mồ tổ phụ, anh giống họ ở chỗ yêu sâu đậm ít bộc lộ nhưng trung thành. Người yêu chê bỏ đi lấy chồng Niềm buồn chớ không oán giận; rồi khi cần nỗi buồn kia được gác riêng qua để Niềm làm tròn nhiệm vụ với nước non đã nuôi sống, dung dưỡng mình. Cái đẹp là ở chỗ đó.

Đó là Niệm, những nhân vật khác cũng thế. (An lên đường đầu quân chỉ xin ảnh người yêu chớ không bận rộn chia ly, nhân dân yêu thích quyên tặng quần áo, vật dụng cho những chiến sĩ, cha Niềm thà chết chớ không chỉ nhà có con gái cho bọn lính say Nhật Bản). Mỗi nơi tác giả đều đem mang về thực sự, cảm động.

Ngoài ra những tình cảm nồng nàn giữa ba bạn Tảo, Bảo, Đình, Tình anh em thương yêu nhau giữa hai giống người Niềm mảo, tình sâu đậm, kính mến của vợ chồng Tảo: tình bạn tâm sự giải bày của Tảo Hồ khiến ta thấy những gì êm đẹp, dịu dàng, đáng mến. Ở đây giữa những người sống trong mảnh đất bị đe doạ họ không nghĩ đến riêng tư, thù hiềm gì nữa mà chỉ còn thương yêu, cởi mở, lo lắng cho nhau.

Đành rằng khuynh hướng văn nghệ không thể ngừng lại ở chỗ luân lý nhân nghĩa, nhưng dù sao qua những gì tác giả đưa ra ta cũng thấy cái thanh tao của con người. Về mặt thuật sự tác giả khá thành công khi kể lại một vài nếp sinh hoạt của dân ta ở giai đoạn đau khổ vì giặc giã ngoại xâm, nó làm chúng rằng tinh thần dân ta không bao giờ hèn yếu, chịu khuất phục trước những khó khăn, không bao giờ chịu đầu hàng trước những lực lượng hùng mạnh của ngoại bang.

Ngũ Tư Và Cảm Nghĩ Của Những Người Ở Thế Giới Siêu Hình

Đây là một tập truyện mà không gian và thời gian rất thay đổi, nhưng dù khung cảnh nào, từ nước Việt Nam xưa với chàng Mạc Bảo Châu lãnh sứ mạng thích khách Tôn Sĩ Nghị đến nỗi thất vọng lớn của người nhạc sĩ Phù Tang cố tâm tìm âm thanh đặc biệt của nhân dân đau khổ qua lời thở hổn hển của Ngũ Tử Tư nước Tàu rắp tâm báo thù cha anh, sang thế giới vô hình của hai linh hồn chiến sĩ, thế giới thần tiên của thần vòng, thái dương thần nữ tác giả đều cố nói lên. Lòng yêu nước của bậc thức giả.

- Mạt sát sự yếu hèn của người xu phu.

Ở đây trí tưởng tượng của ông dồi dào, đào sâu lịch sử để trình bày ý mình một cá biệt.

Các nhân vật ở thế giới nầy dù là lịch sử, dù là thần thoại đều giống người thường, họ cũng có tư tưởng, biết cảm xúc nhưng họ có cái nhìn thấu đáo hơn, cử chỉ họ siêu thoát hơn và tài năng họ nhiều hơn.

Họ là thần vòng, thổ địa, bóng ma, thái dương thần nữ, hay những tướng tài đã chết, cũng đều biết yêu mến những vị anh hùng, biết tha thiết với dân tộc, họ cũng cho rằng ở đời cần làm một cái gì xứng đáng chớ hạnh phúc cá nhân chẳng qua cũng là ảo ảnh và tầm thường vô nghĩa lý như cuộc đời.

Vậy thế giới Siêu Hình của Vũ Anh Khanh chỉ là một thứ siêu hoá những người trần tục; một cách làm cho được tin tưởng hơn những gì mình nói một phương pháp để diễn tả mạnh mẽ hơn ý mình (cảm tưởng của Thái Dương Thần Nữ, thần vòng về những tội nhân chiến tranh của Nhật) bởi vậy thế giới thứ hai nầy của tác giả cũng không có gì lạ lắm, không xa thực tế, mà còn đánh mạnh vào lòng người đọc hơn.

Thế giới trung gian của trần tục và siêu hình cũng vậy đó là thế giới của những nhân vật lịch sử, vì có tính chất của các nhân vật ở đây tương tợ tâm sự, tư tưởng của các nhân vật trong hai thế giới trước, họ cũng biết buồn vì vận nước, biết hành động khi mất nước (Mạc Bảo Châu, Ngũ Tử Tư…)

Điều cần ghi nhận là mặc dầu nhân vật của Vũ ở thế giới nào cũng được cảm tình của người đọc vì ý tưởng của họ và tác giả tạo họ sau khi đã suy nghĩ cân nhắc nên hành động cử chỉ của họ không giả tạo, sai sử liệu, cứng nhắc như ta thường thấy ở những nhân vật lịch sử của tuồng cải lương trong những ngày gần đây.

Bạt Xiu Lìn Và Tình Tự Yêu Nước

Đây là một truyện dài trinh thám gián điệp đã đăng trên báo Tiếng Chuông năm 49. Tên Bạt Xiu Lìn do âm Quảng Đông Bạch Tiểu Liên (bông sen trắng nhỏ) mà ra, nàng là người con gái cha Tàu, mẹ Việt nhưng yêu dân tộc đã sinh dưỡng nàng nên có hành động chống lại lớp người thống trị Việt Nam. Nàng cùng Lương người anh nuôi và em kết nghĩa của Lương là Sơn hợp thành một nhóm gián điệp lợi hại tổ chức nhiều việc cầm chân quân Nhật có hiệu quả. Chuyện kể nhiều sự kiện hùng tráng, đấu trí, choảng nhau giữa những người yêu nước và quân Nhật. Bối cảnh là cuộc vùng lên của dân tộc, khêu lên những căm hờn vì sự đè nén của ngoại bang.

Tác giả có một cái nhìn thấu đáo chẳng hạn khi cho rằng người Việt biết căm phẫn nhưng họ không nói ra, họ chịu đựng vì thấy chưa đến lúc bộc lộ, chớ không phải là giống ươn hèn cam chịu số phận con sâu cái kiến.

Tác giả có kỹ thuật nên trước khi đưa ra một việc gì dù rất là tầm thường đều sửa soạn bằng vài sự kiện giới thiệu nên người đọc dễ chú ý và thấy rõ ý tác giả (việc cãi nhau giữa hai người phu xe về một cử chỉ ngang tàng của một ông tai to mặt lớn nào đó đi xe không chịu trả tiền, được dẫn từ cuộc đối thoại của Lương – Sơn về tính người dân nghèo V.N). Về văn chương, với tài văn lưu loát sẳn có Vũ vẫn được nhiều cảm mến của độc giả. Tóm lại, quyển truyện Bộc Lộ Tình Tự Yêu Nước lồng trong một câu chuyện có tính cách giải trí.

Nửa Bồ Xương Khô Và Tình Cảm Của người Cách Mạng

Nửa Bồ Xương Khô là chuyện dài quan trọng nhất của Vũ Anh Khanh, quan trọng vì tính chất nghệ thuật của nó hoàn hảo nên được mọi người ưa thích. Ta có thể nói Nửa Bồ Xương Khô là một “Tha La” về tản văn của tác giả, vì nói đến Vũ Anh Khanh người ta có thể giới hạn trong hai tác phẩm điển hình trên. “Nửa Bồ Xương Khô” gồm hai quyển ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu quyển I vì quyển II tác giả viết thêm về chủ Nghĩa Cộng sản nên bị hội đồng kiểm duyệt lúc ấy bỏ nhiều và cấm lưu trữ. Như chúng tôi đã xác nhận từ lúc mở đầu rằng viết văn thiên về chánh trị, chủ nghĩa là không làm tròn bổn phận một nhà văn hoá – theo quan niệm của chúng tôi. Bởi vậy tôi bỏ qua không bàn đến “Nửa Bồ Xươn Khô II”. Phần khác tôi thấy quyển I tự nó vẫn đầy đủ ý nghĩa, đứng một mình vẫn không thiếu sót, tác giả thấy mình thành công nên viết thêm quyển hai mà thôi…

Chuyện kể cuộc sống tình cảm lúc ra làm nữ cứu thương cho bộ đội của ba người con gái quê là Cải, Tiến, Huyện. Cải thông minh, lanh lợi, dí dỏm, chưa từng biết yêu ai và không “quan trọng hoá” ái tình. Tiến ngây thơ, hiền hậu. Huyện dịu dàng và đã biết mùi vị của yêu đương. Trước khi hưởng ứng lời kêu gọi của tổ quốc ba người con gái lên đường, Huyện đã đau khổ vì nghe tin người yêu là Chung đã chết. Sau đó nàng gặp lại Chung, bây giờ đã có vợ, nàng cho rằng người yêu phụ bạc và đau khổ. Một bạn đồng đội đã chép lại lời tâm sự của Chung để giải oan cho chàng, vì Chung chỉ lấy vợ vì lời yêu cầu của một người bạn lúc lâm chung. Một đêm trên giường bệnh, sau khi hiểu nỗi lòng của người yêu, Huyện nằm mơ thấy một bóng ma. Bóng ma mà một lần nàng đã bốc mộ lấy được nửa bồ xương khô vì tưởng đó là vật chất còn lại của người yêu.

Câu chuyện không thể thắt nút lắm và tình tiết để xây dựng cốt truyện có vẻ tương tợ như “Trong Mùa Chinh Chiến” của Phạm Thu Cảnh, nhưng ở đây tác giả vì có đời sống nội tâm phong phú nên nêu ra được nhiều đoạn hợp tình cảm động thực lòng người. Vả lại, nhờ giải quyết theo thực tế nên câu chuyện mang tính chất của cuộc đời chớ không giả tạo trong phần kết thúc một cách cổ điển như trường hợp của “Trong Mùa Chinh Chiến”. Những nếp sống, sự việc ở đây mang một hấp dẫn người đọc vì đáng yêu và mang mầu sắc người, tính chất nhân bản. Người yêu chết, Huyện nhớ lại lời xưa, liều nguy hiểm đi bốc mộ về… Tưởng người yêu bạc tình định tự tử, bạn thân là Cải tìm cách cảnh tỉnh nàng. Đây là một đoạn văn dài tác giả quan sát khá nên viết linh động, gợi cảm, người đọc thấy trong sự việc sự thực chớ không thấy gì vẻ kịch tính, tiểu thuyết cả (trang 90). Tình thương bà của Huyện, nỗi bực tức của người lính trước cái chết thê thảm của người dân, muốn trả thù lên đầu những tù binh (trang 104), những lời mạt sát nức nở của Huyện (trang 107). Những đoạn nêu trên chứng tỏ các tác giả có chân tài, biết quan sát, biết đem vào tác phẩm mình những đoạn cần thiết.

-Ngoài ra, như ở quyển “Cây Ná Trắc” có những đoạn ghi lại những cảnh sinh hoạt của người dân trong thời binh lửa, ở đây qua những chương: Tam nhân đồng hành, mết tinh, vui ra đi, người nữ cứu thương, đêm kinh khủng một đêm vui…ta thấy rõ những tư tưởng, cảm nghĩ, lề lối sinh hoạt, nghĩa là những hình tượng chứng nhân nói lên những phản ứng của người dân Việt yêu nước trước sự xâm lăng của ngoại nhân. Người ta cũng thấy ở đây những cực nhọc, thất bại, chết chóc nhưng qua ngòi bút của tác giả, ta biết đó là những hy sinh cần phải có để đem lại tổ quốc sự vinh quang đó là những cảnh đẹp đáng mến chớ không phủ đầy một màu u ám, chán chường như nhiều người lầm tưởng.

Như trên đã xác định, “Nửa Bồ Xương Khô” thành công là nhờ ở kỹ thuật nhiều – đành rằng cũng có góp phần của nội dung lành mạnh, đánh trúng vào lòng người, nhưng điều nầy cũng chỉ là một phần nhỏ.

Ta đọc một đoạn văn tả cảnh tái ngộ của một cặp tình nhân yêu nhau rất mực vì bổn phận phải xa nhau, nay gặp lại trong bẽ bàng, để biết thêm về ngòi bút của Vũ:

Chàng (Chung) vui vẻ bắt tay Đồng đứng đón ở cửa rồi đi thăm mấy bịnh nhân, hỏi qua cách làm việc.

Đồng giới thiệu những nhân viên giúp việc, thuật sơ lại công lao của từ người. Đến phiên Huyện, nàng ngẩng mặt nhìn Chung trân trối. Chàng ngạc nhiên, chàng vui mừng kêu một tiếng khẽ:

- Huyện!

Đồng cụt hứng đứng im. Chung đi lại gần Huyện. Huyện sung sướng quá, nàng ôm chầm ngay lấy Chung, muốn làm một cử chỉ thân mến hay nói một câu chào, nhưng nàng thấy nghẹn ngào, hai giòng nước mắt lăn dài. Mọi người có mặt đều lạ lùng chưa hiểu. Chung run giọng:

- Cô…em Huyện.

Chung cũng nghẹn ngào, chàng không tìm ra lời để nói. Cuộc gặp gỡ đột ngột tình cờ làm cho cả hai người đều ngượng nghịu. Sau cùng, chàng quay lại nói với mọi người:

-Cô Huyện, em gái tôi.

Chàng cầm tay người đàn bà để vào tay Huyện nói nhỏ:

- Và vợ tôi.

Như (nghe) một tiếng sét đánh, Huyện tái mặt, tay nàng tự nhiên run run trong tay người đàn bà kia. Nàng cố gượng cười để chào. Một phút qua, nàng thoáng cảm thấy cả một tan vỡ đau đớn. Ruột nàng quặn thắt lại xót xa.

Huyện cắn chặt răng để khỏi bật một tiếng khóc và vội cúi đầu.

Nàng không nghe gì nữa! không thấy gì nữa!

Chung quanh nàng, những bóng người đảo lộn không phân biệt màu sắc, những âm thanh pha trộn xô bồ. Nàng thấy mình bị bỏ rơi. Nàng thấy nàng trở nên bé nhỏ trước người đàn ba kia. Huyện sợ hãi, bấm chặt ngón chân xuống nền gạch, tìm hiểu vì cớ nào Chung nhẫn tâm quên nàng mà lấy vợ. Gã đàn ông hiền hậu ngày xưa lại quên lời thề cũ! Tự nhiên Huyện muốn nói một lời thật chua chát với Chung. Nàng ngẩng lên, nàng nhìn bạo dạn vào mắt Chung. Chung đang nhìn lại nàng, nỗi bực tức của Huyện không hiểu sao biến mất, lui sâu vào lòng. (trang 85)

Từ lâu Huyện mang thần tượng về Chung, với nàng, Chung là tất cả những cao quý, kết đúc những đức tính đáng yêu, cái chết của Chung - đối với nàng - giữa lúc nàng yêu Chung tha thiết càng làm cho Huyện thấy cao hơn, giờ đây trước thực tế phũ phàng nỗi thất vọng lớn sinh ra từ đó, đè nặng lên người Huyện, nàng thấy mình yếu đuối, bé bỏng, chơ vơ, mất cả những niềm tin cũng như hình ảnh đẹp.

Bởi vậy sau đó khi Cải hỏi nàng đươc dịp để trút những nỗi phẫn uất không thể cầm được nữa. Bao nhiêu nỗi khổ sở của Huyện tuôn ra theo một tiếng nấc lớn.

- Bạc!

Rồi nàng ôm lấy Cải, rồi nàng gục đầu vào vai bạn khóc nức nở:

- Người như thế mà bạc!

Những tiếng bạc đơn độc như những tiếng thét, cái nấc, đọc lên ta thấy vài giọt nước mắt trào ra, ta hình dung được ngay sự đau khổ muôn vàn của người con gái nhiều tình cảm.

Ngoài những ưu điểm trên, Vũ Anh Khanh có nhược điểm là nhắc đi nhắc lại một ý của ông, dù là độc sáng – khi thấy hợp lúc, ở những tác phẩm giống nhau như việc nhắc lại Chị Giang - Nguyễn Thái Học, đề cao ngọn cỏ bưng biền vì ích lợi và hứng máu anh hùng, gởi em gái lại cho bạn, lớp bình dân phục vụ, nghĩa là ông thường để ngòi bút lướt theo cảm hứng nên ý có thể trùng ở chi tiết ở chuyện nầy và chuyện khác. Ông cũng rút từ truyện dài ra khai thác, thêm thắc để tạo nên một đề tài mới khi viết thành truyện ngắn.

Họ Vũ chỉ có khuyết điểm là vậy, còn những sơ hở luân lý, tư tưởng, những non nớt trên ngôn từ, kỷ thuật ta khó lòng tìm thấy ở ông.

Dù sao nhờ có chân tài, diễn tả bay bướm tài hoa nhưng không sáo cộng thêm vào đó là sự phong phú tác phẩm thành công, đề cao những tình cảm trong sáng, dân tộc. Vũ Anh Khanh đã nghiễm nhiên trở thành lãnh tụ của văn đàn Nam Việt vào những năm tao loạn nhất.

III.- KẾT LUẬN

Qua phần khái quát ta có thể hiểu tổng quát về tư tưởng của Vũ Anh Khanh qua đoạn phân tích tác phẩm ta được đi vào mỗi ngang ngách tư tưởng của ông, thế cũng tạm đủ; ở phần kết thúc nầy chúng tôi chỉ nói về địa vị của ông trong số những nhà văn miền Nam khoảng 1945-50 và bước qua phần kỹ thuật của ông, như ta đã biết khoảng 1945-1947 dường như không có tác phẩm nào, có chăng vài tư tưởng thiên Cộng được trình bày trên những bài báo: trên những tập sách nhỏ không ảnh hưởng quan trọng. Ở năm 50 tác phẩm trở lại ít và chuyển hướng, đề tài giờ đây ít khai thác ở kháng chiến mà thiên về tâm tình xã hội kiểu tiền chiến. Những năm quan trọng chỉ còn lại 48-49 hay đúng hơn chỉ có mỗi một năm 1949. Năm này tác giả nào cũng viết nhiều, tác phẩm phần nhiều quan trọng. Trong số đó tác phẩm được xuất bản dẫn đầu có thể nói được là Vũ Anh Khanh. Vì số lượng không là điều chính yếu mà việc quan trọng để xếp định giá trị một văn tài là phẩm cho nên ở trên chúng tôi đã nói nhiều về tư tưởng của ông. Ở thời ấy không có những vấn đề triết học được đặt ra: phi lý kiếp người, hoài nghi giá trị con người, thắc mắc về sự hiện hữu, vấn đáp và tư do hành động, tư tưởng…v.v…lúc đó chỉ có những vấn đề được đặt ra và nhận một cách tiên thiên: yêu nước, làm bất cứ cách gì để nước được độc lập, người dân được no đủ. Có đề tài rồi, mỗi tác giả viết theo ý của mình, xây dựng truyện của mình, ai viết khá thoát, không mang vết tích tuyên truyền, không cứng ngắc giả tạo… là người ấy thành công. Trong đó phải kể Vũ Anh Khanh ở hàng đầu vì dù đã có đề tài cốt truyện của ông cũng hấp dẫn người đọc, văn ông được người mến, tư tưởng của nhân vật thanh cao, và phần kết thúc truyện của ông khó biết trước được (so sánh với Lý Văn Sâm truyện thường để lộ kết thúc).

Phần kỹ thuật, để khỏi dài dòng, chúng tôi xin nhận xét quyển Cây Ná Trắc và nói thêm rằng vào một khu rừng đẹp, nhìn một vài góc cạnh cũng lấy làm thoả mãn, mỗi nơi một vẻ, nhưng không thể nào nhìn hết được. Đại khái tác giả có cái nhìn quan sát tinh vi vì diễn tả được bằng một vài câu sự khôn ngoan chiều chuộng chồng, thấy trước những ước muốn của chồng là những cảnh ta thường thấy ở gia đình Việt Nam.

“Đình vui vẻ: Hai anh ngồi xuống đây, cả Diễm nữa.

Tảo kêu vợ pha thêm trà.

Bảo tặc lưởi hai ba cái nói đùa: “Trăng thì trăng rằm, trà thì trà thượng hạng, pha đặc, giá có ít cái bánh rế ăn cho đúng điệu.

Vợ Tảo mỉm cười bồng con đi mua (trang 25)

Tác giả có những cuộc đối thoại khá thực, chứng tỏ cái nhìn của ông đã đến mức thu nhận những sự kiện đáng ghi của cuộc đời.

“Chúng ta hiện giờ phải đánh hai thứ giặc: giặc xâm lăng và giặc dốt. Giặc xâm lăng chưa biết bao giờ mới dẹp xong, chớ giặc dốt thì chính phủ đã ra huấn lệnh bảo phải cấp tốc trừ dứt trong vòng một năm trở lại.

Tảo mỉm cười nhìn Biểu:

- Đối đầu với giặc dốt chúng tôi xin nhường các chị cái ấn tiên phong.

Hồ cũng cười tiễn hai người ra cửa.

- Thế đối với giặc xâm lăng các anh cho tôi đi hậu tập sao?

Biễu cười dòn.

- Thì xin nhường luôn ấn tiên phong cho các chị vậy. (trang 38)

Về văn từ thì, Vũ Anh Khanh diễn tả với ngòi bút nhẹ nhàng gợi cảm lôi cuốn giọng văn nhiều nhạc điệu với những ngôn từ đúng chỗ, duyên dáng.

Tóm lại, nhờ ý tưởng thanh tao, nhờ biết chọn bối cảnh và ghi lại những gì đáng diễn tả, Vũ Anh Khanh là ngôi sao sáng trên văn đàn Nam Bộ vào những năm 1945-1950.



NHẬT VỰNG truyện KHÔI HẠO

NHẬT VỰNG KHÔI HẠO      T   ôi bắt đầu câu chuyện kể như lời sám hối. Ý chừng chẳng còn gì để mất và cũng chẳng sợ mất điều gì! Tôi lao vào ...